CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái quát về rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại 1. Khái niệm Trong tài liệu “Financial Institutions Management – A Modern Perpective”, A. Lange (2002) định nghĩa rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năng các nguồn thu nhập dự tính mang lại từ khoản cho vay của ngân hàng không thể được thực hiện đầy đủ cả về số lượng và thời hạn.
Còn theo Henie Van Greuning … Sonja Brajovic Bratanovic (1999, analyzing bank risk, the World Bank): “Rủi ro tín dụng được định nghĩa là nguy cơ mà người đi vay không thể chi trả tiền lãi hoặc hoàn trả gốc so với thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng.” Đây là thuộc tính vốn có của hoạt động ngân hàng. Rủi ro tín dụng tức là việc chi trả bị trì hoãn, hoặc tồi tệ hơn là không chi trả được toàn bộ. Điều này gây ra sự cố đối với dòng chu chuyển tiền tệ và ảnh hưởng tới khả năng thanh khoản của ngân hàng (The World Bank) Có nhiều quan niệm về rủi ro tín dụng trong cho vay khách hàng. Tuy nhiên hiện nay vẫn chưa có khái niệm cụ thể về rủi ro tín dụng cho vay khách hàng cá nhân.
Rủi ro tín dụng trong cho vay khách hàng cá nhân là một bộ phận trong rủi ro tín dụng. Qua tìm hiểu, tác giả xin đưa ra khái niệm về rủi ro tín dụng trong cho vay khách hàng cá nhân như sau: Rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại do khách hàng cá nhân không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết. Tuy nhiên, chúng ta cần hiểu rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân theo nghĩa xác suất, là khả năng, do đó có thể xảy ra hoặc không xảy ra tổn thất. Điều này có nghĩa là một khoản vay dù chưa quá hạn nhưng vẫn luôn tiềm ẩn nguy cơ xảy ra tổn 7 thất.
Một ngân hàng có tỷ lệ nợ quá hạn thấp nhưng nguy cơ rủi ro tín dụng sẽ rất cao nếu danh mục đầu tư tín dụng tập trung vào một nhóm khách hàng cá nhân tiềm ẩn nhiều rủi ro. Cách hiểu này sẽ giúp cho hoạt động quản trị rủi ro tín dụng được chủ động trong phòng ngừa, trích lập dự phòng, đảm bảo chống đỡ và bù đắp tổn thất khi rủi ro xảy ra. ❖ Đặc điểm tín dụng KHCN tại NHTM Quy mô của từng hợp đồng vay thường nhỏ dẫn đến chi phí tổ chức cho vay cao; rủi ro của món vay luôn cao hơn các loại cho vay khác và nguồn trả nợ chủ yếu của người vay có thể biến động lớn vì vậy lại suất cho vay KHCN thường cao hơn mức lãi suất của các loại cho vay khác trong lĩnh vực thương mại và công nghiệp. Khi nền kinh tế thịnh vượng, nhu cầu của người dân được nâng cao thì nhu cầu vay tiêu dùng cũng được tăng lên.
Vào các dịp lễ tết, nhu cầu vay mua sắm tiêu dùng của người dân cũng rất lớn dẫn đến số lượng các khoản vay tiêu dùng cũng tăng lên. Nhu cầu vay của khách hàng phụ thuộc vào chu kỳ kinh tế, mức thu nhập và trình độ học vấn của KH. Khách hàng vay tiêu dùng thường là cá nhân nên việc xác minh tài chính thường là rất khó. Nên việc chứng minh tài chính khách hàng dựa vào tiền lương và sự duy đoán chứ không có bằng chứng rõ ràng.
Tư các của khách hành là yếu tố khó xác định, song nó rất quan trọng trong việc quyết định cho vay cũng như khả năng hoàn trả các khoản vay. Nguyên nhân chủ quan Những nhân tố thuộc về khách hàng Việc ngân hàng thực hiện công tác quản trị rủi ro tín dụng cá nhân có hiệu quả hay không, không chỉ phụ thuộc vào ngân hàng mà còn phụ thuộc vào khách hàng vay vốn. Rủi ro tín dụng cá nhân xảy ra khi khách hàng vay vốn ngân hàng không trả được nợ và lãi đúng hạn do chủ quan như: phương án sản xuất kinh doanh thiếu hiệu quả, do sử dụng vốn sai mục đích đã đưa ra trong đơn vay vốn hoặc cá biệt có 8 trường hợp khách hàng có tính lừa đảo chiếm đoạt vốn vay. Đối với khách hàng cá nhân thường gặp rủi ro do thiên tai như mất mùa, dịch bệnh, hoặc rủi ro trong đời sống như ốm đau, tai nạn hoặc bị chết.
Những nhân tố thuộc về Ngân hàng Thứ nhất, trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp của cán bộ tín dụng Trong mọi vấn đề, nhân tố con người bao giờ cũng là nhân tố quan trọng có tính chất quyết định. Do vậy, công tác quản trị rủi ro tín dụng rất cần thiết phải đặt nhân tố con người bao gồm: Cán bộ ngân hàng và người đi vay lên hàng đầu. Muốn vậy, việc tuyển dụng cán bộ vào làm việc tại ngân hàng phải đòi hỏi công khai và minh bạch. Cán bộ được tuyển dụng phải bảo đảm có trình độ và đạo đức.
Việc đánh giá người đi vay cũng hết sức quan trọng. Ngân hàng có thể sử dụng biện pháp chấm điểm khách hàng và phân loại tín dụng. Đó là quá trình trong đó xác định cấp độ rủi ro tín dụng cho một khách hàng, một món vay hoặc một loại tài sản được khách hàng dùng để thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Nói chung, mọi khách hàng vay, mọi khoản vay đều phải được đánh giá phân loại kỹ càng.
Chấm điểm khách hàng và phân loại tín dụng là một công cụ quan trọng của quản trị rủi ro tín dụng. Khách hàng vay hoặc các khoản cho vay được chấm điểm, phân loại tại thời điểm gốc và cần được đánh giá, phân loại lại (theo mức độ rủi ro) sau một thời gian. Việc đánh giá lại này dựa vào thực tế hoạt động và sử dụng vốn tín dụng của người được cấp tín dụng. Thứ hai, cơ chế, chính sách, mô hình tổ chức quản trị rủi ro của ngân hàng Các quy chế, chính sách cho vay hiện đại thường quy định rằng tổng mức giá trị một ngân hàng được phép đầu tư, cho vay hoặc cung cấp tín dụng khác đối với một khách hàng cá nhân có liên quan vượt hơn một tỷ lệ nhất định tính trên tổng số vốn và dự phòng của ngân hàng đó.
Trong phạm vi này, các nhà quản trị ngân hàng có thể kiểm soát được rủi ro tín dụng của các ngành ngân hàng và từng ngân hàng để đảm bảo quyền lợi cho người gửi tiền và ngăn chặn các tình huống có thể sảy ra rủi ro cho cả hệ thống ngân hàng. Hầu hết các quốc gia đều hạn chế mức cho vay đối với một khách hàng trong 9 khoảng từ 20-25% tổng vốn, mặc dù ở một số nơi, tỷ lệ này có thể lên tới 30-40%. Uỷ ban Basel về giám sát ngân hàng khuyến nghị nên áp dụng tỷ lệ tối đa là 25%, có thể giảm xuống 10% khi thực tế cho phép. Mức ngưỡng phải báo cáo cho cơ quan quản trị chức năng thường được đặt thấp hơn mức tỷ lệ tối đa.
Khi đó, các nhà quản trị có thể quan tâm đặc biệt đến những khoản vay vượt trên tỷ lệ ngưỡng và yêu cầu các ngân hàng có biện pháp phòng ngừa trước khi việc tập trung phòng ngừa rủi ro trở thành nguy cơ. Trong bất kỳ trường hợp nào, các ngân hàng, do đặc trưng hoạt động, luôn phải chịu rủi ro ngành nghề. Do vậy, mỗi ngân hàng cần có chính sách giới hạn mức dư nợ cho vay cao nhất đối với một ngành kinh tế hoặc cho một khu vực địa lý hẹp. Ngoài ra, mỗi ngân hàng phải xây dựng hệ thống kiểm soát các rủi ro này một cách tốt nhất và đánh giá tác động do sự thay đổi do sự thay đổi theo chiều hướng xấu của chất lượng các khoản vay và cân đối lỗ lãi.
Các ngân hàng cũng cần phải có một cơ chế tổ chức để giải quyết các rủi ro tăng lên. Ngoài ra, ngân hàng cần trích lập dự phòng rủi ro một cách nghiêm túc và phù hợp với tình hình dư nợ tại ngân hàng mình. Bên cạnh đó, việc tổ chức bộ máy quản trị rủi ro trong hoạt động ngân hàng cũng là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến công tác quản trị rủi ro tín dụng bởi nếu một mô hình quản trị rủi ro thiếu khoa học, lạc hậu sẽ dẫn tới những rủi ro tiềm ẩn rất lớn là trong hoạt động tín dụng của NHTM. Thứ ba, nhân tố công nghệ Hiện nay, các ngân hàng Việt Nam đều đã trang bị hệ thống thông tin hiện đại để xây dựng các mối quan hệ trực tiếp với khách hàng, online trực tuyến với các giao dịch.
Trong xu thế toàn cầu hóa và sự cạnh tranh trong lĩnh vực tài chính ngân hàng ở Việt Nam ngày càng trở nên khốc liệt, chúng ta càng thấy vai trò của công nghệ đối với hoạt động kinh doanh cũng như năng lực cạnh tranh của từng ngân hàng. Công nghệ sẽ thể hiện rất rõ giúp ngân hàng trong lĩnh vực quản trị, trong việc mở rộng sản phẩm dịch vụ, thông qua đó, ngày càng đáp ứng được các nhu cầu khắt khe của hệ thống ngân hàng. Ngoài ra công nghệ cũng cho phép ngân hàng 10 quản trị rủi ro tốt hơn, từ đó đưa ra các công cụ hỗ trợ để giúp ngân hàng đưa ra những quyết định đúng đắn. Như vậy, các nhân tố thuộc ba nhóm nhân tố trên vừa có tính độc lập tương đối, vừa quan hệ chặt chẽ và chi phối lẫn nhau, có thể làm cho hoạt động của NHTM giảm thiểu được rủi ro, nâng cao chất lượng, hiệu quả tín dụng ngân hàng.
Nhưng chúng cũng có thể gây ra những tổn thất, thậm chí rất lớn, dẫn tới phá sản của một hoặc một số NHTM. Chẳng hạn sự yếu kém, thiếu đồng bộ, thiếu nhất quán trong cơ chế, chính sách cho vay, dẫn tới tình trạng cán bộ quản trị của NHTM, hoặc người đi vay lợi dụng, đặc biệt nguy hại khi cán bộ nắm quyền lãnh đạo, chi phối hoạt động của NHTM bị sa sút phẩm chất đạo đức nghề nghiệp. Nguyên nhân khách quan Những nhân tố thuộc về môi trường Môi trường kinh tế xã hội là tổng hòa các mối quan hệ và xã hội, xét một cách tổng thể, môi trường kinh tế xã hội ảnh hưởng đến việc quản trị rủi ro tín dụng cá nhân từ cả phía ngân hàng và khách hàng.