Chương I của chuyên dé là những nội dung tổng quan nhất về hoạt động cho vay tiêu dùng cũng như quan trị rủi ro tin dụng trong cho vay tiêu dùng tại các NHTM hiện nay tại Việt Nam. Hoạt động cho vay tiêu dùng tại các NHTM 1. Khái niệm Với sự phát triển nhanh của nền kinh tế hiện nay, nhu cầu tiêu dùng của người dân cũng dần được cải thiện rõ rệt và tăng cao đối với nhiều mặt hàng, chủng loại khác nhau, đặc biệt đối với những người tiêu dùng có thu nhập khá. Do đó, với sự thay đôi trong thói quen sông của người dân, các NHTM và tổ chức tài chính đã đưa ra dịch vụ về cho vay tiêu dùng đối với những khách hàng có nhu cầu.
Căn cứ cho vay tiêu dùng về cơ bản như sau: - Đối với người tiêu dùng, nhu cầu vay với mục đích tiêu dùng ngày càng gia tăng mạnh mẽ va đa dạng. Đồng thời, đa số người có nhu cầu vay tiêu dùng thường là người có thu nhập ổn định dé đảm bảo nguồn thu trả nợ cho ngân hàng - Di với ngân hàng, hiện nay, nhiều tổ chức tài chính, doanh nghiệp tự tài trợ bang cách phát hành cô phiếu, trái phiếu nhằm cạnh tranh với ngân hang trong cho vay tiêu dùng, từ đó làm thị phần cho vay tiêu dùng của ngân hàng giảm, đòi hỏi ngân hàng phải mở rộng quy mô hoạt động cho vay tiêu dùng nhằm tăng thu nhập và cạnh tranh Theo thông tư 43/2016/TT-NHNN có hiệu lực từ ngày 15/03/2017 quy định về hoạt động cho vay tiêu dùng của các công ty tài chính đã quy định cụ thể về khái niệm về cho vay tiêu dùng, hoạt động cho vay của công ty tài chính được xác định là cho vay tiêu dùng khi đạt những tiêu chí sau: - Hoat động cho vay băng đồng Việt Nam - _ Khách hàng vay vốn là cá nhân - _ Mục đích vay vốn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn mua, sử dụng hàng hóa, dich vụ cho mục đích tiêu dùng của khách hàng, gia đình của khách hàng đó, bao gồm nhu cầu mua phương tiện đi lại, đồ dùng, trang thiết bị gia đình; chi phí học tập, chữa bệnh, du lịch, văn hoá, thé dục, thé thao; chi phí sửa chữa nhà ở - _ Tổng dư nợ cho vay tiêu dùng đối với một khách hàng tại công ty tài chính đó không vượt quá 100.000 đồng (một trăm triệu đồng), trừ trường hợp cho vay tiêu dùng để mua ôtô và sử dụng ôtô đó làm tài sản bảo đảm cho chính khoản vay đó theo quy định của pháp luật 1. Đặc trưng cơ bản của cho vay tiêu dùng Thứ nhất, đối tượng của các khoản vay tiêu dùng là các cá nhân, hộ gia đình và nhu cầu phụ thuộc vào tình hình tài chính hiện tại. Nhu cầu đối với các khoản vay của những đối tượng này phụ thuộc vào mức thu nhập của mỗi cá nhân, hộ gia đình.
Đối với những người có tổng mức thu nhập cao thì nhu cầu vay chủ yếu nhằm tăng thêm khả năng thanh toán hoặc một khoản tài trợ rất linh hoạt trong chi tiêu khi mà nguồn vốn của họ đã và đang được đầu tư. Đối với những cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp thì việc đi vay chỉ nhằm tạo sự cân bằng giữa thu nhập và chi tiêu. Mục đích vay của các cá nhân, hộ gia đình phải được xác định rõ ràng và phục vụ cho đúng nhu cầu tiêu dùng của họ. Thứ hai, các khoản vay tiêu dùng không chỉ phụ thuộc vào tình hình tài chính của khách hàng mà còn phụ thuộc vào tình hình kinh tế ở mỗi giai đoạn cụ thể.
Vào giai đoạn nền kinh tế phát triển, các cá nhân thường kỳ vọng hơn về thu nhập trong tương lai. Khi đó, nhu cầu hưởng thụ, chi tiêu từ đó cũng tăng lên đặc biệt đối với các khoản vay tiêu dùng. Ngược lại, đối với giai đoạn nên kinh tế có nguy cơ lâm vảo tỉnh trạng khủng hoảng ở bất kì một khía cạnh nào, người dân sẽ có xu hướng cảm thấy không tự tin về sự ôn định của thu nhập cũng như lo lắng về tình trạng thất nghiệp có thé diễn ra. Thứ ba, chi phí cho một khoản vay tiêu dùng mà ngân hàng phải bỏ ra là tương đối cao.
Đối với một khoản vay tiêu dùng thì giá trị thường không lớn, trong khi đó, chi phí về thời gian và nguồn nhân lực dé điều tra thu thập thông tin, dữ liệu về khách hàng là tương đối lớn. Đồng thời, khối lượng các khoản vay cần quản lý sẽ có sự tăng lên và vẫn đòi hỏi cần có sự chặt chẽ trong quản lý từng khoản vay và từng khách hàng. Điều đó dẫn đến chi phí cho một khoản vay tiêu dùng sẽ thường cao hơn so với chi phí vay thương mai. Thứ tw, lãi suất của khoản vay tiêu dùng khá cứng nhắc do thường là lãi suất có định.
Thông thường, khách hàng chỉ thường quan tâm tới khoản mà họ phải trả hàng kỳ hơn là lãi suất ghi trên các hợp đồng tín dụng. Tuy nhiên thì đối với những khoản vay có giá trị không lớn như vay tiêu dùng, lãi suất thường chỉ là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định vay của các cá nhân và hộ gia đình, bởi mức thu nhập và trình độ dân trí được coi là yếu tố quan trọng và có ảnh hưởng hơn cả. Với những cá nhân có thu nhập cao, họ thường có xu hướng vay nhiều hơn so với thu nhập dé chi tiêu ngay khi cần thiết, còn đối với những người có trình độ dân trí khá, việc đi vay thường nhằm mục dich đạt được mức sống mong muốn hon là dùng trong trường hop khẩn. Thứ năm, nguồn trả nợ của các cá nhân, hộ gia đình có thé biến động trong thời gian vay.
Đối với các khoản vay để tiêu dùng cho mục đích tiêu dùng cá nhân thì nguồn trả nợ là khoản thu nhập của khách hàng, còn đối với khoản vay đối với các hộ kinh doanh thì nguồn trả nợ là kết quả kinh doanh hàng kỳ của hộ gia đình. Thứ sáu, rủi ro cao do chất lượng về thông tin tài chính của khách hàng còn hạn chế. Về rủi ro lãi suất, ta biết lãi suất cứng nhắc đối với các khoản cho vay tiêu dùng trong khi các khoản cho vay thương mại hiện nay khá linh hoạt theo lãi suất của thị trường. Vì vậy khi có sự tăng lên trong chi phí huy động vốn, ngân hàng cũng có thé gặp rủi ro lãi suất.
Về rủi ro từ phía khách hàng, khách hàng có thể có tình không trả nợ hoặc không có thiện chí trả nợ cho ngân hàng, thông tin khách hàng cung cấp thiếu trung thực hoặc có thê khách hàng gặp các trở ngại khách quan như ốm, tử vong hay mat việc. Khi đó, ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong việc thu hồi nợ. Thứ bảy, quy mô của các khoản vay nhỏ do nhu cầu về giá trị vay tiêu dùng không quá lớn, tuy nhiên, số lượng các khoản vay này lại rất lớn bởi sự đa dạng về đối tượng cũng như mục đích vay. Các hình thức cho vay tiêu dùng Việc phân loại cho vay tiêu dùng được dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau tuỳ thuộc vào từng phương pháp đánh giá các khoản vay.
Thông thường, các khoản cho vay tiêu dùng thường được phân loại như sau: - _ Căn cứ vào mục đích vay Cho vay tiêu dùng bất động sản là các khoản cho vay nhằm mục đích đầu tư vào các khoản bất động sản như mua mới, sửa chữa hoặc xây dựng nhà cửa. Quy mô của một khoản vay tiêu dùng bất động sản thường lớn hơn so với quy mô của các khoản vay tiêu dùng thông thường khác, khiến độ rủi ro cũng lớn hơn do kỳ hạn thường dài hơn. Cho vay tiêu dùng thông thường như vay mua xe, du lịch, du học,. phục vụ đời song thiết yếu, hỗ trợ tài chính khi cần thiết.
- _ Căn cứ vào phương thức hoàn trả Cho vay tiêu dùng trả góp, khách hàng sẽ trả nợ cho ngân hàng thành nhiều lần và định ky tuy theo từng thời hạn của khoản vay và quy định của ngân hàng, khách hàng trả nợ bao gồm cả gốc và lãi của khoản vay. e_ Cho vay tiêu dùng trả một lần tức khách hàng trả nợ cho ngân hàng một lần duy nhất tại thời điểm đáo hạn của khoản vay, bao gồm cả gốc và lãi. e Cho vay tiêu dùng tuần hoàn, khách hàng được vay và trả nợ thành nhiều kỳ tuần hoàn cho ngân hàng theo một hạn mức tín dụng nhất định đã được xác định trước, ví dụ như băng thẻ tín dụng hay phát hành séc được phép thấu chi dựa trên tài khoản vãng lai. - _ Căn cứ vào cách dam bảo tiền vay Cho vay có tài sản dam bảo, khách hàng sẽ phải có tài sản cầm có dé đảm bảo cho khoản vay hay thế chấp tài sản để đảm bảo.
Trong trường hợp ngân hàng không đòi được nợ, ngân hàng có quyền tịch thu tài sản đảm bảo dé bù đắp và hạn chế tổn thất. Cho vay không tài sản đảm bảo, khách hang sẽ không phải cầm có hay thế chap tài sản thuộc sở hữu của bản thân, khi đó ngân hàng sẽ cho vay dựa trên đánh giá về uy tín của khách hàng hay khả năng trả nợ thông qua sự ôn định về thu nhập. Quy trình cho vay tiêu dùng chung 10 Bước 1: Tiếp nhận hồ sơ tín dung Khi khách hàng có nhu cầu đến với ngân hàng, cán bộ tín dụng sẽ hướng dẫn cho khách hàng cách lập hồ sơ vay vốn theo đúng thủ tục và quy định, quy chế cho vay tiêu dùng của ngân hang, bao gồm hồ sơ pháp lý, hồ sơ nguồn thu và hồ sơ phương án vay. Bước 2: Tham định tín dụng khách hang Đây được xem là một bước quan trọng trong quá trình xét duyệt một khoản cho vay tiêu dùng, ảnh hưởng lớn đến quyết định và chất lượng tín dụng.
Thâm định tín dụng một khách hàng bao gồm thâm định về nhân thân, người đồng trả nợ, mục đích vay, khả năng tài chính và tài sản đảm bảo. Mọi thông tin thầm định sai hoặc thiếu sót đều có thé dẫn đến những quyết định sai từ phía phê duyệt, từ đó tăng ty lệ rủi ro của khoản vay, dễ gây thiệt hại cho ngân hàng. Cụ thể các bước trong thâm định như sau: - Tham định đặc điểm nguồn đi vay: được tiễn hàng thông qua thâm định năng lực pháp luật, hành vi dân sự và tư cách pháp lý của khách hàng có đáp ứng đủ yêu cầu mà ngân hàng đặt ra hay không.