Chương 1: Lý luận cơ bản về rủi ro và quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng cá nhân tại Ngân hàng TMCP. Tiên Phong Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Tiên Phong. Luan van 5 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ RỦI RO VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Ngân hàng thƣơng mại và tín dụng cá nhân tại ngân hàng 1.
Khái quát về ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm về ngân hàng thương mại Ngân hàng xuất hiện rất sớm trong lịch sử nhân loại, hình thái đầu tiên của. ngân hàng bắt nguồn từ việc đổi tiền của các thương nhân cho các nhà buôn, dần. dần uy tín tăng lên các thương nhân này thực hiện giữ hộ tiền, thanh toán nội bộ và.
do tích luỹ được nhiều tiền nên họ kiêm luôn cả cho vay. Cuối thế kỷ XVIII ở các. nước Tây Âu, các ngân hàng dần dần được thành lập mới hoặc chuyển qua từ các. ngân hàng cho vay nặng lãi.
Với sự phát triển kinh tế hàng hoá, đã thúc đẩy nên sự. hình thành của ngân hàng phát hành tiền, với mục đích thống nhất giữa các tổ chức. chuyên kinh doanh tiền tệ. NHTM c n được gọi là ngân hàng ký thác là hình thái.
ngân hàng ra đời sớm nhất, một sản phẩm tất yếu của nền kinh tế hàng hoá và tồn. tại tất yếu trong đời sống kinh tế-xã hội. Theo Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941), ngân hàng định nghĩa như sau:. Được coi là ngân hàng là những xí nghiệp hay cơ sở nào hành nghề thường xuyên.
nhận của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào các nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính. Hay theo như Luật ngân hàng của Ấn Độ (1950) đã nêu: Ngân hàng là cơ sở nhận. các khoản tiền ký thác để cho vay hay tài trợ, đầu tư…. Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng các NHTM đều có chung mục đích hoạt động nhằm thu lợi nhuận thông qua các khoản vốn ngắn hạn.
Ở Việt Nam, Luật các Tổ chức tín dụng (Số 47/2010/QH12) có quy định:. Ngân hàng thương mại là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện tất cả hoạt động. ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác nhằm mục tiêu lợi nhuận; trong đó quy định rõ: “Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên Luan van 6 hoặc một số các nghiệp vụ sau: nhận tiền gửi, cấp tín dụng; cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản”. Như vậy các ngân hàng thương mại có thể được khái niệm theo chức năng, các dịch vụ hoặc vai trò mà chúng thực hiện trong nền kinh tế, như là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, là trung gian tài chính, là tổ chức tín dụng.
Khái niệm trên cơ sở xem xét những loại hình dịch vụ mà chúng cung cấp: Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất-đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán – và thực hiện nhiều chức năng nhất so với bất kỳ một chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. (Phan Thị Thu Hà, 2013) Qua quá trình phát triển lâu dài cùng với thời gian, hoạt động của các NHTM. ngày càng hoàn thiện, phong phú và đa dạng hơn. Là tổ chức trung gian tài chính,.
NHTM vừa đóng vai tr là người đi vay, vừa đóng vai tr là người cho vay trong. quan hệ tín dụng với các chủ thể của nền kinh tế. Trong nền kinh tế thị trường việc. thừa vốn ở nơi này và thiếu vốn ở nơi khác thường xuyên xảy ra và với tư cách là.
trung gian tài chính, NHTM thu hút mọi khoản vốn nhàn rỗi trong xã hội để cung. cấp vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu vốn, làm cho luồng tiền luôn ở trạng thái vận. động mang lại lợi nhuận đồng thời góp phần điều hoà vốn trong nền kinh tế. cũng thể hiện bản chất của NHTM chính là một tổ chức chuyên kinh doanh tiền tệ.
Các loại hình của NHTM: - NHTM quốc doanh: là NHTM được thành lập bằng 100% vốn của nhà nước. - NHTM cổ phần: là NHTM được thành lập dưới hình thức công ty cổ phần. - NHTM nước ngoài: là ngân hàng được thành lập theo luật pháp nước ngoài nhưng hoạt động theo luật pháp nước sở tại. - NH liên doanh: là ngân hàng được thành lập bằng vốn góp của bên ngân hàng Việt Nam và bên ngân hàng nước ngoài có trụ sở tại Việt Nam và hoạt động theo luật pháp Việt Nam.
Chức năng của ngân hàng thương mại NHTM là tổ chức hoạt động chủ yếu theo phương thức là nhận tiền gửi ngắn. hạn và cho vay ngắn hạn trong nền kinh tế nhằm mục đích thu lợi nhuận. nhiên, hiện nay khái niệm về NHTM đang thay đổi vì sự pha trộn của các hoạt động. truyền thống của NHTM với các loại hình trung gian tài chính khác.
NHTM hiện đại đã không chỉ kinh doanh các khoản vốn ngắn hạn mà còn kinh. doanh các khoản vốn trung và dài hạn khác. Việc phân biệt NHTM với các ngân. hàng và tổ chức tài chính khác hiện nay chủ yếu dựa trên tài sản có, NTHM có tỷ lệ.
vốn cho vay vào mục đích thương mại và công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong. tổng tài sản có của nó. Và bản chất của NHTM được bộc lộ ra thông qua các chức. năng cơ bản của nó.
Trong điều kiện của hệ thống ngân hàng phát triển, các NHTM. thực hiện 3 chức năng sau: - Chức năng làm thủ quỹ của xã hội và làm trung gian thanh toán. Cùng với quá trình phát triển của nền kinh tế, quy mô thanh toán qua ngân. hàng ngày càng được mở rộng, vai trò trung gian thanh toán ngày càng được khẳng.
định bởi ngân hàng luôn áp dụng những thành tựu của khoa học công nghệ mới vào. hoạt động thanh toán và thật khó tưởng tượng được một nền kinh tế phát triển mà. lại không có ngân hàng tham gia với tư cách là trung gian thanh toán. NHTM làm trung gian thanh toán khi thực hiện chi trả theo yêu cầu của khách.
hàng trích tiền từ tài khoản để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ hoặc nhập vào tài. khoản của khách hàng và các khoản thu khác…ở đây ngân hàng đóng vai tr là. người “thủ quỹ” của xã hội vì ngân hàng giữ tài khoản và thực hiện thu - chi hộ. khách hàng.
Đây cũng là một chức năng quan trọng của NHTM không những thể hiện khá rõ. bản chất của NHTM mà c n cho thấy tính chất “đặc biệt” trong hoạt động kinh doanh. Khi nền kinh tế chưa có hoạt động của ngân hàng hoặc mới có những. hoạt động sơ khai nhận bảo quản tiền đúc thì những khoản nhận thanh toán giữa.
những người sản xuất kinh doanh và các đối tượng khác đều được thực hiện một cách. trực tiếp, người trả tiền và người thụ hưởng tự kiểm soát các giao dịch thanh toán. Luan van 8 đồng thời sử dụng tiền mặt để chi trả trực tiếp. Phương thức thanh toán này có nhược.
điểm là tốn chi phí vận chuyển, chi phí kho quỹ, bảo quản, tốn nhiều công sức và thời. gian đồng thời gây sự lãng phí do vốn bị tồn đọng trước khi thanh toán. NHTM thực hiện tốt chức năng này có ý nghĩa to lớn đối với nền kinh tế. Phương thức thanh toán qua ngân hàng tiết kiệm được chi phí, thời gian và đảm bảo.
Qua đó thúc đẩy lưu thông hàng hoá, đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn. góp phần tăng trưởng kinh tế. - Chức năng làm trung gian tín dụng: Trung gian tín dụng là chức năng quan trọng và cơ bản nhất của NHTM nó. không những cho thấy bản chất của NHTM mà còn cho thấy nhiệm vụ chính yếu.
NHTM làm trung gian tín dụng khi nó là cầu nối giữa người thừa vốn. và người có nhu cầu về vốn. Thông qua việc huy động các nguồn vốn tiền tệ tạm. thời nhàn rỗi trong nền kinh tế, NHTM hình thành nên quỹ cho vay rồi nó đem cho.
vay với nền kinh tế mà chủ yếu là cho vay ngắn hạn đáp ứng vốn nhu cầu kinh. doanh và vốn đầu tư cho các ngành kinh tế và nhu cầu vốn tiêu dùng của xã hội, góp phần đảm bảo sự vận động liên tục của guồng máy kinh tế – xã hội, thúc đẩy. tăng trưởng kinh tế. - Chức năng tạo tiền Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng với nhiệm vụ cụ thể và tập trung.
của mình là huy động vốn dưới nhiều hình thức và cấp tín dụng cho nền kinh tế. Khi cho vay đối với nền kinh tế, hệ thống NHTM có khả năng tạo ra một khối. lượng tiền mới - tiền trên tài khoản, người ta gọi là khả năng tạo tiền chứ không. phải là chức năng vốn có của NHTM.
Trong thực tế hoạt động cho vay của ngân. hàng tuy có tạo ra một lượng tiền ghi sổ mới nhưng người ta chỉ nhìn nhận và xem. xét nó trong trạng thái “tĩnh” trạng thái sự vật đứng im không vận động. Nhưng nếu.
ở trạng thái “động” nghĩa là tài khoản đang hoạt động thì số tiền được “tạo ra” trên. tài khoản nói trên không thể tồn tại lâu bởi vì người chủ tài khoản rút ra để sử dụng. Tiền do các NHTM tạo ra bằng khả năng biến mức tiền gửi ban đầu hoặc một. khoản nhận được từ NHTW thông qua việc cấp tín dụng cho các khách hàng là tổ.
Luan van 9 chức phi ngân hàng. Từ một khoản tiền gửi ban đầu đưa vào NHTM, sau đó thông. qua cho vay trong hệ thống NHTM thì số tiền trong hệ thống NHTM đã tăng lên. gấp nhiều lần so với tiền gửi ban đầu.
Khả năng tạo tiền phụ thuộc vào lượng tiền. mà NHTW bơm thêm vào và hệ số mở rộng tiền gửi của NHTM, hệ số mở rộng. tiền gửi lại phụ thuộc vào tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tỷ lệ dự trữ dư thừa, tỷ lệ tiền mặt. so với tiền gửi thanh toán.2 Tổng quan về tín dụng ngân hàng 1.
Tín dụng ngân hàng - Khái niệm Xét trên góc độ ngân hàng, mà cụ thể là chức năng của nó, thì tín dụng được .