CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1Tổng quan về thanh toán quốc tế (TTQT) 1.1 Khái niệm về thanh toán quốc tế “Thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả và quyền hưởng lợi về tiền tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức, cá nhân nước này với tổ chức, cá nhân nước khác, hay giữa một quốc gia với tổ chức quốc tế thông qua quan hệ giữa các ngân hàng của các nước liên quan” (Nguyễn Văn Tiến, 2009, trang 294) Theo thời gian khái niệm về thanh toán quốc tế ngày càng đầy đủ và chi tiết hơn. Thanh toán quốc tế phục vụ cho cả 02 lĩnh vực kinh tế và phi kinh tế. Do đó người ta thường phân chia hoạt động thanh toán quốc tế thành thanh toán mậu dịch và phi mậu dịch. Thanh toán mậu dịch: là việc thanh toán trên cơ sở hàng hóa và các dịch vụ thương mại cung cấp cho nước ngoài trên cơ sở hợp đồng ngoại thương.
Thanh toán phi mậu dịch: việc thanh toán không liên quan đến hàng hóa xuất nhập khẩu, chuyển tiền hình thức một chiều như chi phí sinh hoạt, học tập, chữa bệnh… tại nước ngoài. Vai trò của hoạt động thanh toán quốc tế 1.1 Đối với khách hàng Hoạt động TTQT của NHTM đóng vai trò trung gian thanh toán giúp cho quá trình thanh toán theo yêu cầu của khách hàng được tiến hành nhanh chóng, chính xác, an toàn tiện lợi và tiết kiệm tối đa chi phí. Ngoài ra, nếu khách hàng không đủ khả năng tài chính cần đến sự tài trợ của ngân hàng thì ngân hàng sẵn sàng hỗ trợ doanh nghiệp bằng các sản phẩm tài trợ xuất nhập khẩu như cho vay hỗ trợ nhập khẩu, xuất khẩu trọn gói, chiết khấu chứng từ xuất …. 123doc 2 Hoạt động thanh toán quốc tế qua ngân hàng hỗ trợ khách hàng giúp họ có thể cảnh giác trước những rủi ro có thể gặp phải.
Khách hàng sẽ được tư vấn trong việc lựa chọn đối tác, thị trường cũng như lựa chọn hình thức thanh toán.2 Đối với ngân hàng Hoạt động TTQT giúp ngân hàng đa dạng hóa sản phẩm ngân hàng, đáp ứng tốt hơn nhu cầu đa dạng của khách hàng về các dịch vụ tài chính có liên quan tới thanh toán quốc tế. Từ đó mà có thể thu hút nhiều khách hàng, giúp ngân hàng tăng doanh thu, nâng cao uy tín cho ngân hàng và tạo dựng niềm tin cho khách hàng. Điều đó không chỉ giúp ngân hàng mở rộng quy mô hoạt động mà còn là một ưu thế tạo nên sức cạnh tranh của ngân hàng trong cơ chế thị trường. Hoạt động TTQT được thực hiện tốt sẽ mở rộng cho hoạt động tín dụng XNK, phát triển hoạt động kinh doanh ngoại tệ, bảo lãnh ngân hàng trong ngoại thương, tài trợ thương mại và các hoạt động ngân hàng quốc tế khác.
TTQT được củng cố và phát triển mạnh mẽ sẽ góp phần làm tăng tính thanh khoản cho ngân hàng. Khi thực hiện nghiệp vụ TTQT, ngân hàng có thể thu được nguồn vốn ngoại tệ tạm thời nhàn rỗi của các doanh nghiệp có quan hệ TTQT với các ngân hàng dưới hình thức các khoản ký quỹ chờ thanh toán. Đồng thời, việc hoàn thiện các hoạt động TTQT còn tạo điều kiện hiện đại hóa công nghệ ngân hàng.Các ngân hàng sẽ áp dụng công nghệ tiên tiến để hoạt động TTQT được thực hiện nhanh chóng, kịp thời và chính xác, nhằm phân tán rủi ro, góp phần mở rộng quy mô và mạng lưới ngân hàng. Mở rộng hoạt động TTQT cũng làm tăng cường mối quan hệ đối ngoại của ngân hàng, tăng cường khả năng cạnh tranh của ngân hàng, nâng cao uy tín của mình trên trường quốc tế, trên cơ sở đó khai thác nguồn tài trợ của các ngân hàng nước ngoài và nguồn vốn trên thị trường tài chính quốc tế để đáp ứng nhu cầu về vốn của ngân hàng 123doc 3 1.3 Đối với nền kinh tế Thanh toán quốc tế có vị trí quan trọng đặc biệt trong hoạt động kinh tế đối ngoại nói chung và trong hoạt động xuất nhập khẩu nói riêng, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay khi mỗi quốc gia đều đặt kinh tế đối ngoại lên vị trí hàng đầu, coi hoạt động kinh tế đối ngoại là con đường tất yếu trong chiến lược phát triển kinh tế.Thanh toán quốc tế thúc đẩy hoạt động kinh tế đối ngoại phát triển, nếu việc tổ chức thanh toán quốc tế được tiến hành nhanh chóng, an toàn chính xác sẽ làm cho các nhà sản xuất kinh doanh sẽ yên tâm và đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu của mình, nhờ đó thúc đẩy hoạt động kinh tế đối ngoại phát triển, đặc biệt là hoạt động ngoại thương.
Hoạt động TTQT đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế của đất nước. Một quốc gia không thể phát triển với chính sách đóng cửa, chỉ dựa vào tích lũy trao đổi trong nước mà phải phát huy lợi thế so sánh, kết hợp giữa sức mạnh trong nước với môi trường kinh tế quốc tế. Thanh toán quốc tế hạn chế rủi ro trong quá trình thực hiện hợp đồng kinh tế đối ngoại.Trong hoạt động kinh tế đối ngoại, do vị trí địa lý của bạn hàng cách xa nhau làm hạn chế việc tìm hiểu khả năng tài chính, khả năng thanh toán của người mua đồng thời trong điều kiện tiền tệ thường xuyên biến động, khả năng thanh toán của con nợ là rẩt bấp bênh, hơn nữa trong cơ chế thị trường tình trạng lừa đảo ngày càng nhiều vì vậy rủi trong việc thực hiện hợp đồng kinh tế đối ngoại ngày càng lớn. Nếu tổ chức tốt hoạt động thanh toán quốc tế sẽ giúp cho các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu hạn chế được rủi ro trong quá trình thực hiện hợp đồng.
TTQT là mắt xích không thể thiếu trong dây chuyền hoạt động kinh tế quốc dân. TTQT là khâu quan trọng trong giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ giữa các cá nhân, tổ chức thuộc các quốc gia khác nhau. TTQT góp phần giải quyết mối quan hệ hàng hóa tiền tệ, tạo nên sự liên tục của quá trình sản xuất và đẩy nhanh quá trình lưu thông hàng hóa trên phạm vi quốc tế. Nếu hoạt động TTQT được tiến hành nhanh chóng, an toàn sẽ khiến hoạt động lưu thông hàng hóa tiền tệ giữa người mua, người bán diễn ra trôi chảy, an toàn hơn.3 Các phương thức thanh toán quốc tế 1.1 Phương thức chuyển tiền Khái niệm Đây là phương thức thanh toán đơn giản nhất, trong đó khách hàng (người trả tiền) yêu cầu ngân hàng của mình chuyển một số tiền nhất định cho một người khác (người hường lợi) ờ một địa điểm nhất định và trong một thời gian nhất định.
Có hai hình thức chuyển tiền là chuyển tiền bằng thư (mail transfer, M/T) và chuyển tiền bằng điện báo (telegraphic transíer, T/T). Hình thức chuyển tiền bằng điện có lợi cho người xuất khẩu vì nhận tiền nhanh chóng, không có lợi cho người nhập khẩu vì chi phí cao. Quy trình thanh toán: Sơ đồ 1.1 Quy trình thanh toán T/T trả trước (1) Nhà nhập khẩu ký hợp đồng ngoại thương với nhà xuất khẩu cung cấp hàng hóa, dịch vụ theo phương thức chuyển tiền ứng trước (2) Nhà nhập khẩu lập thủ tục chuyển tiền cho nhà xuất khẩu gửi đến ngân hàng phục vụ mình (tùy theo yêu cầu ứng trước của hợp đồng mà chuyển ngay khi ký hợp đồng hoặc khi nhận được bộ chứng từ copy) (3) Ngân hàng phục vụ nhà nhập khẩu chuyển tiền cho ngân hàng phục vụ nhà xuất khẩu. (4) Ngân hàng phục vụ nhà xuất khẩu nhận được tiền thanh toán tiền cho nhà xuất khẩu.
123doc 5 (5) Nhà xuất khẩu chuyển giao hàng hóa cho nhà nhập khẩu Sơ đồ 1.2 Quy trình thanh toán T/T trả sau (1) Nhà nhập khẩu ký hợp đồng ngoại thương với nhà xuất khẩu cung cấp hàng hóa, dịch vụ theo phương thức chuyển tiền trả sau (2) Nhà xuất khẩu chuyển giao hàng hóa cho nhà nhập khẩu (3) Nhà nhập khẩu lập thủ tục chuyển tiền cho nhà xuất khẩu thông qua ngân hàng phục vụ nhà nhập khẩu (4) Ngân hàng phục vụ nhà nhập khẩu chuyển tiền cho ngân hàng phục vụ nhà xuất khẩu. (5) Ngân hàng phục vụ nhà xuất khẩu nhận được tiền thanh toán tiền cho nhà xuất khẩu. Như vậy thanh toán chuyển tiền là hình thức thanh toán trực tiếp giữa người chuyển tiền và người nhận tiền. Ngân hàng chỉ đóng vai trò trung gian thanh toán theo uỷ nhiệm để được hưởng hoa hồng và không bị ràng buộc gì cả đối với cả người mua lẫn người bán.Trong quan hệ mua bán phương thức này chỉ được chọn làm phương tiện thanh toán đối với nhà kinh doanh xuất nhập khẩu, cung ứng dịch vụ có quan hệ thân thiết, tin cậy lẫn nhau, vì khâu thanh toán này dễ làm nảy sinh việc chiếm dụng vốn của người bán, nếu bên mua cố tình dây dưa, kéo dài việc thanh toán.
Ưu điểm của phương thức chuyển tiền so với các phương thức TTQT khác: 123doc 6 - Thủ tục và trình tự đơn giản hơn. - Thời gian chuyển và nhận tiền nhanh hơn. - Chi phí thấp hơn. Phương thức nhờ thu Khái niệm Phương thức thanh toán nhờ thu là một phương thức thanh toán trong đó người bán sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng hoặc cung ứng một dịch vụ cho khách hàng, uỷ thác cho ngân hàng của mình thu hộ số tiền ở người mua trên cơ sở hối phiếu do người bán lập ra.Trong mối quan hệ này, ngân hàng ở cả hai bên nước nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu, chỉ tham gia với tư cách là trung gian thu tiền hộ.Khi áp dụng phương thức thanh toán này các bên liên quan sẽ tuân theo qui tắc thống nhất về nhờ thu chứng từ thương mại URC (Uniform Rule for Collection) do phòng Thương mại quốc tế ICC ban hành.
Theo URC 522 để tiến hành phương thức thanh toán nhờ thu bên bán phải lập chỉ thị nhờ thu (Collection Instruction) gửi cho ngân hàng uỷ thác. Các ngân hàng tham gia nghiệp vụ nhờ thu chỉ được thực hiện theo đúng chỉ thị, với nội dung phù hợp qui định URC được dẫn chiếu. Chỉ thị nhờ thu là văn bản pháp lý điều chỉnh quan hệ giữa ngân hàng với bên nhờ thu. Các loại nhờ thu: Phương thức nhờ thu trơn: Là phương thức thanh toán trong đó người bán uỷ thác cho ngân hàng thu hộ tiền ở người mua căn cứ vào hối phiếu do mình lập ra, còn chứng từ thương mại thì gửi thẳng cho người mua không qua ngân hàng.