phần mở đầu thì Techcombank là một ngân hàng lớn với tốc độ phát triển nhanh trong ngành. Do vậy, các vấn đề về quản trị rủi ro, đặc biệt là quản trị rủi ro thanh khoản của ngân hàng này cần phải đƣợc lƣu tâm và đƣa ra để nghiên cứu. Nguyên do đây là ngân hàng khá lớn và nếu ngân hàng gặp những nguy cơ về thanh khoản, ảnh hƣởng liên đới đến toàn hệ thống ngân hàng là điều khó tránh khỏi. Thứ hai, thanh khoản là một vấn đề có tính nhạy về cả mặt thời gian và hoàn cảnh.
Cùng với sự biến động của hoàn cảnh xã hội, tình hình kinh tế cũng nhƣ thay đổi về mặt thời gian, công tác quản trị thanh khoản sẽ cần thay đổi để đảm bảo tính phù hợp, hiệu quả. Do vậy, các bài nghiên cứu về quản trị rủi ro thanh khoản và các đề xuất về biện pháp giảm thiểu rủi ro thanh khoản vẫn luôn cần thiết và cần phải có t nh đổi mới ở mỗi thời kỳ. Về thực tiễn, trong giai đoạn gần đây năm 2018 – 2022, ngành tài ch nh nói chung cũng nhƣ ngành ngân hàng nói riêng đã có những thay đổi đáng kể, điều này làm cho tính thời sự của các công trình nghiên cứu trƣớc đó về quản trị rủi ro thanh khoản giảm đi đáng kể. Riêng đối với đề tài quản trị rủi ro thanh khoản tại Techcombank, các bài nghiên gần nhất đã phân t ch số liệu từ cách đây hơn 10 năm (năm 2012 trở về trƣớc).
Các số liệu phân t ch không còn đủ tính đƣơng thời và các khuyến nghị về công tác quản trị rủi ro đã không còn phù hợp với ngân hàng do chiến lƣợc kinh doanh của Techcombank đã thay đổi nhiều lần kể từ thời điểm này. Do vậy, việc lựa chọn đề tài quản trị rủi ro thanh khoản tại Tech- combank là cần thiết để lấp đầy khoảng trống nghiên cứu. Cơ sở lý luận về rủi ro thanh khoản và quản trị rủi ro thanh khoản tại ngân hàng t ƣơn mại 1. Thanh khoản và rủi ro thanh khoản tron n ân àn t ƣơn mại 1.
Thanh khoản tron n ân àn t ƣơn mại Về lý thuyết, tính thanh khoản trong ngân hàng thƣơng mại (“NHTM”) đƣợc phản ánh qua khả năng đáp ứng gần nhƣ tức thời nhu cầu về tiền của NHTM đó. Các nhu cầu về tiền này có thể đƣợc kể đến nhƣ tiền chi trả cho khách hàng khi họ 10 có nhu cầu rút tiền gửi, tiền giải ngân cho khách hàng khi họ có nhu cầu giải ngân khoản tín dụng đã thỏa thuận với ngân hàng trƣớc đó, tiền chi trả các chi phí hoạt động, vận hành hàng ngày của Ngân hàng hay những nhu cầu khác. Theo định nghĩa của ủy ban Basel về giám sát ngân hàng: “Thanh khoản của ngân hàng là khả năng của ngân hàng đó để tăng thêm tài sản và đáp ứng các ngh a v nợ khi đến hạn mà không bị thiệt hại quá mức”. Ngoài ra, một số định nghĩa về thanh khoản dƣới các góc độ khác nhau đƣợc đƣa ra.
Dƣới góc độ tài sản, “thanh khoản là khả năng chuyển hóa từ tài sản thành tiền”. Dƣới góc độ Ngân hàng, thanh khoản đƣợc định nghĩa: “Là khả năng ngân hàng đáp ứng đầy đủ và kịp thời các ngh a v tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động giao dịch như chi trả tiền gửi, cho vay, thanh toán và các hoạt động giao dịch tài chính khác” (Nguyễn Văn Tiến, 2009). Một Ngân hàng đƣợc đánh giá là có tình hình thanh khoản tốt nếu ngân hàng đó đáp ứng đƣợc các điều kiện (1) nắm giữ nhiều tài sản có tính thanh khoản mà có thể dễ dàng chuyển hóa thành tiền hoặc (2) có khả năng huy động thêm nguồn vốn, làm tăng tài sản trong thời gian ngắn với mức chi phí tối thiểu mà vẫn đảm bảo duy trì mọi nhu cầu về vốn khi đến hạn, kể cả những nhu cầu không nằm trong dự kiến. Rủi ro thanh khoản tại n ân àn t ƣơn mại a.
Khái niệm rủi ro thanh khoản Nói đến khái niệm của rủi ro thanh khoản, có rất nhiều định nghĩa cho khái niệm này. Theo Duttweiler (2010) “Rủi ro thanh khoản là nguy cơ không thể thực hiện được các ngh a v thanh toán khi đến hạn, theo đó kéo theo những hậu quả không mong muốn”. Đó là khái niệm rủi ro thanh khoản nói chung. Tuy nhiên, đứng dƣới góc độ nhà quản trị trong ngân hàng, rủi ro thanh khoản đƣợc hiểu là rủi ro mà ngân hàng không đủ năng lực đáp ứng các nhu cầu về thanh toán khi đến hạn, hoặc phải đáp ứng nhu cầu này với một mức chi phí cao, bất hợp lý, gây ảnh hƣởng không tốt đến tình trạng tài chính của ngân hàng đó.
Mặt khác, cũng có thể nói rằng, rủi ro thanh khoản xuất hiện khi ngân hàng thiếu khả năng chi trả cho các khoản thanh toán đến hạn nhƣng lại không nắm giữ đủ các tài sản có tính thanh khoản cao 11 để đổi thành tiền hoặc không có khả năng huy động nguồn tiền từ nơi khác với một mức giá hợp lý, từ đó gây ra những hệ lụy không mong muốn. Ngoài ra, rủi ro thanh khoản một trong những loại rủi ro trọng yếu trong ngân hàng, bởi nó có thể là khởi nguồn gây nên nhiều hệ lụy khác về mặt tài chính, phi tài chính cho ngân hàng, là nguyên nhân khiến nhiều loại hình rủi ro khác phát sinh. Không những vậy, sự thiếu hụt về thanh khoản của một ngân hàng nói riêng, đôi khi còn gây nên sự tổn thất liên đới đối với toàn hệ thống ngân hàng nói chung. Tóm lại, có thể hiểu rằng, rủi ro thanh khoản là những tổn thất tiềm tàng với ngân hàng khi ngân hàng đó không đáp ứng đƣợc các nhu cầu chi trả, nghĩa vụ thanh toán đúng theo cam kết đã đề ra.
Do vậy, một trong những nhiệm vụ quan trọng đƣợc đề ra cho mỗi nhà quản trị ngân hàng là làm sao đảm bảo đƣợc tính thanh khoản của ngân hàng, giúp đảm bảo khả năng đáp ứng các nghĩa vụ về thanh toán của ngân hàng khi đến hạn đồng thời giảm thiểu các tình huống bất lợi. Để đảm bảo tính thanh khoản, các nhà quản trị có thể lựa chọn cân nhắc một số phƣơng án thông dụng nhƣ (1) dự trữ sẵn lƣợng vốn khả dụng để sử dụng khi cần thiết, hoặc các tài sản có tính thanh khoản cao, để có thể dễ dàng quy ra tiền mặt mà gần nhƣ không mất đi giá trị nguyên gốc của tài sản; (2) duy trì các mối quan hệ để tiếp cận các nguồn vốn vay bên ngoài với mức chi phí hợp lý và đúng thời điểm. Yếu tố dẫn đến rủi ro thanh khoản Có rất nhiều yếu tố gây nên rủi ro thanh khoản tại các ngân hàng thƣơng mại, từ cả mặt chủ quan và khách quan. Dƣới đây là một vài nguyên nhân chính dẫn đến rủi ro thanh khoản trong ngân hàng thƣơng mại mà tác giả đã tổng kết đƣợc.
Trƣớc hết, về nguyên nhân chủ quan, xuất phát từ nội tại của mỗi ngân hàng, có 04 yếu tố chính gây ra rủi ro thanh khoản. Thứ nhất là do sự mất cân xứng của tài sản có (nguồn tiền ra đƣợc sử dụng để cho vay sinh lời) và tài sản nợ (nguồn tiền vào từ huy động của khách hàng) trên bảng cân đối kế toán của ngân hàng. Cụ thể hơn, điều này gây ra bởi cách thức hoạt động kinh doanh của ngân hàng, đó là thƣờng có xu hƣớng cho vay dài hạn (để hƣởng mức lãi suất cao hơn) và huy động ngắn hạn (để chi trả mức lãi suất t hơn). 12 Chính sự không khớp nhau về kỳ hạn giữa tài sản có và tài sản nợ nhƣ vậy, sản sinh ra những khoảng “gap” về thanh khoản giữa tài sản có và tài sản nợ, dẫn đến nguy cơ rủi ro thanh khoản.
Ví dụ, ngân hàng huy động đƣợc tiền gửi từ nhiều khách hàng, nhƣng các khách hàng này chỉ có nhu cầu gửi ngắn hạn (tầm dƣới 1 năm), ngân hàng sau đó dùng chỗ tiền này cho khách hàng vay 01 khoản vay trung dài hạn (10 – 15 năm) với mục đ ch mua nhà. Điều này sẽ khiến ngân hàng gặp rủi ro, khi các khoản tiền gửi đến hạn, ngân hàng sẽ không có tiền để chi trả do lƣợng tiền này đã đƣợc đƣa vào sinh lời qua hình thức cho vay, nhƣng khoản vay lại chƣa đến hạn, ngân hàng chƣa thu lại đƣợc tiền để gửi trả cho các khách hàng muốn tất toán những khoản tiền gửi đến hạn của mình. Thứ hai là do sự mất cân đối cơ cấu khách hàng tín dụng, thƣờng bắt nguồn từ những chiến lƣợc lợi nhuận mang tính ngắn hạn của ban điều hành ngân hàng. Minh họa cho điều này là việc một số ngân hàng, chi nhánh ngân hàng có chiến lƣợc phát triển tín dụng tập trung vào một vài nhóm khách hàng chiến lƣợc, hoặc một vài nhóm ngành nghề đặc thù.
Điều này dẫn đến nguy cơ, khi những nhóm khách hàng có tỷ trọng dƣ nợ lớn này gặp khó khăn về mặt tài chính, không có khả năng chi trả tiền gốc, lãi vay đúng hạn, ngân hàng, chi nhánh ngân hàng sẽ đối mặt với rủi ro thanh khoản khi không nhận đƣợc dòng tiền về theo đúng kỳ vọng. Thứ ba là do chính sách cho vay của một số ngân hàng quá nới lỏng, các điều kiện về khách hàng vay vốn đƣợc hạ thấp để tạo điều kiện cho nhiều khách hàng đƣợc tiếp cận nguồn vay. Điều dẫn đến các khách hàng có điều kiện kém vẫn có thể tham gia vay vốn. Khách hàng có điều kiện không đạt chuẩn rất dễ mất khả năng thanh toán, gây nên rủi ro tín dụng và rồi là rủi ro thanh khoản cho ngân hàng cho vay.
Thứ tư là do tiềm lực tài chính của các ngân hàng còn hạn chế. Tiềm lực tài ch nh này đƣợc thể hiện qua quy mô vốn điều lệ. Quy mô vốn điều lệ nhỏ có thể là một trong các yếu tố đẩy ngân hàng tới việc mất khả năng chi trả hoặc thậm chí là phá sản khi có sự tăng đột ngột về nhu cầu thanh khoản Ngoài ra, rủi ro thanh khoản còn có thể gây ra bởi nguồn gốc từ các loại hình rủi ro khác trong ngân hàng nhƣ rủi 13 ro tín dụng (nhƣ v dụ đã trình bày ph a trên) hoặc rủi ro thị trƣờng (các biến động bất thƣờng từ lãi suất, tỷ giá) khiến ngân hàng gặp khó khăn trong việc huy động vốn, dẫn đến rủi ro thanh khoản. Bên cạnh những nguyên nhân chủ quan, xuất phát từ nội tại ngân hàng, rủi ro thanh khoản còn đến từ những nguyên nhân khách quan.