MỞ ĐẦU Lý do chọn đề tài Những năm gần đây, ngành Ngân hàng gặp nhiều khó khăn, thách thức do những tác động bất lợi của kinh tế vĩ mô trong và ngoài nước. Hệ thống các TCTD bước vào năm 2012 trong điều kiện thanh khoản căng thẳng, rủi ro tiềm ẩn lớn, một bộ phận các TCTD có nguy cơ mất khả năng chi trả, mặt bằng lãi suất ở mức cao, cạnh tranh huy động vốn trên thị trường gay gắt do nhu cầu thanh khoản lớn dẫn đến tình trạng vi phạm trần lãi suất khá phổ biến, nợ xấu có chiều hướng gia tăng. Do vậy quản trị rủi ro là một yêu cầu cấp thiết tất yếu phải thực hiện đối với các NHTM. Đặc biệt trong tình hình nền kinh tế có nhiều biến động trong thời gian gần đây thì càng đặt áp lực nặng nề về vấn đề quản trị thanh khoản trong các NHTM.
Trong xu thế cạnh tranh hội nhập hiện nay, việc xây dựng hệ thống quản trị ngân hàng theo tiêu chuẩn quốc tế được coi là mục tiêu quan trọng của hệ thống NHTM Việt Nam nói chung và của Eximbank nói riêng nhằm đảm bảo cho sự an toàn hoạt động của hệ thống ngân hàng. Vấn đề xác định rủi ro thanh khoản và quản trị rủi ro thanh khoản đóng vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh ngân hàng. Đây là thách thức lớn đối với Ngân hàng trong giai đoạn hiện nay, nhất là sau cuộc khủng hoảng toàn cầu. Đề tài đưa ra những chỉ tiêu về yêu cầu thanh khoản và các chuẩn mực quốc tế để ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam xem xét, ứng phó tốt hơn với khủng hoảng mà căn nguyên xuất phát từ việc yếu kém trong công tác quản trị rủi ro.
Mục tiêu của đề tài Làm rõ nội dung QTRRTK trong hoạt động của các NHTM nói chung và của Eximbank nói riêng. Bên cạnh đó, phân tích thực trạng rủi ro thanh khoản và QTRRTK thông qua các chỉ số thanh khoản, đưa ra những nguyên nhân gây ra rủi ro thanh khoản, cách thức quản trị thanh khoản cũng như một số chỉ tiêu đánh giá RRTK tại ngân hàng theo tiêu chuẩn Basel III. Qua đó đánh giá những thành tựu và hạn chế của ngân hàng cũng như đưa ra những giải pháp hoàn thiện QTRRTK tại Eximbank. Đối tƣợng nghiên cứu 2 Những vấn đề về QTRRTK tại ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam, sự cần thiết của các tiêu chuẩn về QTRRTK.
Phạm vi nghiên cứu Thông qua báo cáo tài chính, báo cáo thường niên của Eximbank và một số tổ chức tín dụng từ năm 2008 – 2012 để đánh giá tình hình thanh khoản. Các chuẩn mực Basel III liên quan đến thanh khoản. Phƣơng pháp nghiên cứu Luận văn sử dụng phương pháp phân tích chỉ số thanh khoản và các phương pháp: mô tả - giải thích, so sánh – đối chiếu, tổng hợp – phân tích, phương pháp thống kê, dự báo thông qua các số liệu có được từ các nguồn thông tin đáng tin cậy. Phân tích sử dụng số liệu thứ cấp thu thập từ các báo cáo ngành, báo cáo thường niên từ 2008-2012 để có thể đánh giá một cách chọn lọc và khách quan.
Ý nghĩa đóng góp của đề tài: Giúp Ngân hàng xem xét, đánh giá lại thực trạng QTRR nói chung và QTRRTK nói riêng theo chuẩn thông thường và theo Basel III để từ đó có các biện pháp quản trị thích hợp trong bối cảnh mới. Kết cấu đề tài: gồm 3 chương CHƢƠNG 1 giới thiệu tổng quan về QTRR và QTRRTK trong hoạt động kinh doanh tại NHTM, các mô hình và phương pháp QTRRTK cơ bản, các quy định Basel trong việc tính chỉ số thanh khoản, những sửa đổi của hiệp ước Basel III so với Basel II. CHƢƠNG 2 nêu rõ tình hình hoạt động, đánh giá thực trạng thanh khoản tại một số NHTM Việt Nam nói chung và của Eximbank nói riêng. Phân tích các chỉ số thanh khoản của Eximbank và xem xét ứng dụng các chuẩn mực Basel trong QTRRTK tại Eximbank.
CHƢƠNG 3 một số giải pháp hạn chế rủi ro thanh khoản và nâng cao khả năng ứng dụng các chuẩn mực quốc tế trong QTRRTK tại Eximbank. 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI. Lý thuyết về thanh khoản tại các NHTM. Khái niệm thanh khoản.
Trong tài chính, thuật ngữ “thanh khoản” được sử dụng trong nhiều phạm vi khác nhau. Dưới góc độ tài sản, thanh khoản là khả năng chuyển đổi tài sản thành tiền mặt một cách dễ dàng và nhanh chóng với chi phí hợp lí. Dưới góc độ doanh nghiệp nói chung, thanh khoản là lượng tiền và tương đương tiền mà doanh nghiệp sở hữu. Trong quản trị ngân hàng, thanh khoản là thuật ngữ chỉ khả năng thanh toán của ngân hàng cũng như khả năng đáp ứng các nhu cầu như rút tiền, thanh toán, vay mới.
Thanh khoản của Ngân hàng tốt khi đáp ứng được các yêu cầu này một cách dễ dàng. Một nguồn vốn được coi là có tính thanh khoản cao khi chi phí huy động thấp và thời gian huy động nhanh. Một tài sản được gọi là có tính thanh khoản cao khi chi phí chuyển hóa thành tiền thấp và có khả năng chuyển hóa ra tiền nhanh. Thanh khoản mang ý nghĩa thời điểm rất lớn, theo nghĩa, một số yêu cầu thanh khoản là tức thời hoặc gần như tức thời.
Chẳng hạn, một khoản tiền gửi lớn đến hạn và khách hàng không có ý định tiếp tục duy trì số vốn này tại ngân hàng; khi đó, ngân hàng buộc phải tìm kiếm các nguồn vốn có thể sử dụng ngay như vay từ TCTD khác. Ngoài ra, yếu tố thời vụ, chu kỳ cũng rất đáng quan trọng trong việc dự kiến cầu thanh khoản dài hạn. Việc kế hoạch được những yêu cầu thanh khoản này, sẽ giúp ngân hàng hoạch định được nhiều nguồn đáp ứng cầu thanh khoản dài hạn hơn là trong trường hợp đối với cầu thanh khoản ngắn hạn. Các trạng thái thanh khoản 4 Trạng thái thanh khoản tại thời điểm xác định có thể được đánh giá qua chỉ tiêu trạng thái thanh khoản ròng (Net Liquidity Position), dựa trên cơ sở đầu vào (tổng cung thanh khoản) và đầu ra (tổng cầu thanh khoản) của các luồng tiền tại thời điểm đó.
Cung thanh khoản là số tiền có sẵn hoặc có thể có trong thời gian ngắn để ngân hàng sử dụng, bao gồm các nguồn sau + Tiền gửi sẽ nhận được từ khách hàng. Đây là nguồn chiếm tỷ trọng lớn nhất. + Doanh thu từ việc cung cấp dịch vụ + Các khoản tín dụng sẽ thu về được + Bán tài sản đang kinh doanh và sử dụng + Vay mượn từ thị trường tiền tệ + Phát hành cổ phiếu ra thị trường Cầu thanh khoản là các nguồn tiền mà ngân hàng sẽ phải chi ra trong thời gian ngắn, tạo nên từ các nguồn: + Tiền gửi khách hàng rút ra + Giải ngân các hợp đồng tín dụng + Thanh toán các khoản vay và trả lãi + Mua lại cổ phiếu + Chi phí cung ứng dịch vụ và chi phí lãi + Thanh toán cổ tức cho cổ đông Trạng thái thanh khoản ròng (NLP) được xác định là chênh lệch giữa tổng cung và cầu thanh khoản tại một thời điểm: NLP = ∑ Cung thanh khoản - ∑ Cầu thanh khoản + Nếu NLP >0, cung thanh khoản dư thừa để đáp ứng nhu cầu thanh khoản, ngân hàng thặng dư thanh khoản. + Nếu NLP <0, cầu thanh khoản vượt quá mức cung, ngân hàng thâm hụt thanh khoản.
+ Trường hợp NLP=0 là trạng thái thanh khoản cân bằng, đây là trạng thái hoàn hảo nhưng rất khó đạt được. Vai trò và ảnh hƣởng của thanh khoản trong Ngân hàng Với tính chất đặc thù và hiệu ứng dây chuyền trong hệ thống ngân hàng thì thanh khoản đóng vai trò cực kỳ quan trọng, đảm bảo hoạt động thông suốt ở các NHTM. Nếu một ngân hàng bị mất thanh khoản sẽ gây ra hiện tượng rút tiền ồ ạt, kéo theo một loạt các ngân hàng khác và cả hệ thống tài chính lâm vào cảnh tương tự. Khủng hoảng tài chính thế giới 2008 cũng bắt đầu từ một ngân hàng rồi lan ra trên diện rộng.
Do đó, tính thanh khoản mang ý nghĩa sống còn đối với các NHTM cũng như toàn bộ nền kinh tế. Một ngân hàng có đủ tài sản để thanh toán nợ nhưng ngân hàng đó vẫn rơi vào khả năng mất thanh khoản do các khoản đầu tư, cho vay không thu hồi kịp để đáp ứng nghĩa vụ thanh toán nợ đến hạn, khi đó nguy cơ phá sản là điều rất có thể xảy ra. Nếu không muốn phá sản hay mất thanh khoản nghiêm trọng thì ngân hàng sẽ phải đi vay với lãi suất rất cao, gây thiệt hại nghiêm trọng đến lợi nhuận hoạt động. Có hai nguyên nhân chính giải thích tại sao thanh khoản lại có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với ngân hàng.
Thứ nhất, cần phải có thanh khoản để đáp ứng yêu cầu vay mới mà không phải thu hồi những khoản cho vay trong hạn hoặc thanh lý các khoản đầu tư có kỳ hạn. Thứ hai, cần có thanh khoản để đáp ứng tất cả những biến động hằng ngày hay theo mùa vụ về nhu cầu rút tiền một cách kịp thời và có trật tự. Do ngân hàng thường xuyên huy động tiền gửi ngắn hạn (với lãi suất thấp) và cho vay số tiền đó với thời hạn dài hạn (lãi suất cao hơn) nên ngân hàng về cơ bản luôn có nhu cầu thanh khoản rất lớn. Trong những năm gần đây, thanh khoản ở một số NHTM luôn trong trạng thái căng thẳng, gây ảnh hưởng tiêu cực đến hệ thống ngân hàng.
Do đó, công tác quản trị thanh khoản trở nên quan trọng hơn so với trước đây rất nhiều, bởi vì một ngân hàng có thể bị đóng cửa nếu không đáp ứng đủ nhu cầu thanh khoản, mặc dù, về mặt kỹ thuật nó vẫn còn khả năng trả nợ. Hơn nữa, năng lực quản trị thanh khoản là thước đo quan trọng về hiệu quả tổng thể để đạt đến các mục tiêu dài hạn của ngân hàng. Thanh khoản trong hệ thống ngân hàng rất quan trọng cho sự bình ổn và phát triển của một quốc gia. Khi thanh khoản của hệ thống ngân hàng có vấn đề sẽ ảnh hưởng đến hệ thống tài chính của quốc gia, ảnh hưởng đến mọi lĩnh vực trong xã hội từ thị trường 6 chứng khoán đến thị trường bất động sản, thị trường lao động, ảnh hưởng đến tiền gửi của người dân… Tất cả những điều này sẽ tàn phá thị trường tài chính, ảnh hưởng trực tiếp đến các thành phần tham gia trong thị trường, những người dân và toàn bộ xã hội.
Các nhân tố ảnh hƣởng đến thanh khoản: 1.