CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Thanh khoản tại ngân hàng thương mại 1. Khái niệm thanh khoản Dưới góc độ tài sản: Thanh khoản là khả năng chuyển đổi thành tiền của tài sản và được đo bằng thời gian và chi phí, trong đó chi phí được hiểu là tổn thất của tài sản trong việc chuyển đổi thành tiền. Tính thanh khoản của tài sản càng cao khi thời gian và chi phí càng thấp và ngược lại.
Như vậy những tài sản thanh khoản là những tài sản đáp ứng được cả hai yêu cầu về thời gian ngắn và chi phí thấp. Dưới góc độ nguồn vốn: Để tạo lập nên các tài sản, ngân hàng tiến hành huy động vốn, trong đó có các tài sản có tính thanh khoản cao. Ngân hàng huy động càng nhiều thì khả năng thanh toán của ngân hàng càng cao. Tuy nhiên, tính thanh khoản của nguồn vốn cũng được đo bằng thời gian và chi phí khi cần thiết phải mở rộng nguồn vốn.
Cũng như tài sản, thanh khoản của nguồn vốn càng cao khi thời gian và chi phí càng thấp. Dưới góc độ ngân hàng: Thanh khoản là khả năng ngân hàng đáp ứng kịp thời và đầy đủ các nghĩa vụ tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh như chi trả tiền gửi, cho vay, thanh toán và các giao dịch tài chính khác. Theo định nghĩa của Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (2008), thanh khoản của ngân hàng là khả năng của ngân hàng đó để tăng thêm tài sản và đáp ứng các nghĩa vụ nợ khi đến hạn mà không bị thiệt hại quá mức. Như vậy, thanh khoản là khả năng tiếp cận các tài sản và nguồn vốn với một chi phí hợp lý để phục vụ các nhu cầu hoạt động khác nhau của ngân hàng.
Một tài sản có tính thanh khoản cao khi chi phí chuyển đổi thành tiền thấp và thời gian chuyển đổi thành tiền nhanh, trong khi đó, nguồn vốn có tính thanh khoản cao khi chi phí huy động thấp và thời gian huy động nhanh. Trạng thái thanh khoản tại ngân hàng thương mại 1. Khái niệm trạng thái thanh khoản 4 Cung thanh khoản là nguồn cung cấp thanh khoản cho ngân hàng, bao gồm các khoản vốn làm tăng khả năng chi trả của ngân hàng như các khoản tiền gửi dự báo trước, doanh thu từ việc cung cấp các dịch vụ phi tiền gửi, các khoản tín dụng đã cấp được thu hồi, bán các tài sản đang được sử dụng và kinh doanh, vốn từ việc vay mượn trên thị trường tiền tệ. Cầu thanh khoản là các khoản vốn làm giảm ngân quỹ của ngân hàng, là các nhu cầu vốn cho các hoạt động khác nhau của ngân hàng.
Cầu thanh khoản bao gồm các nhu cầu từ việc rút tiền của khách hàng, thanh toán cho các khoản vay phi tiền gửi, việc vay vốn của các khách hàng có chất lượng tín dụng cao, các chi phí phát sinh từ kinh doanh các sản phẩm, dịch vụ, thanh toán tiền cổ tức. Theo đó, trạng thái thanh khoản ròng (Net Liquidity Position - NLP) hay còn gọi là khe hở thanh khoản được định nghĩa là ở bất kỳ thời điểm nào khi các nguồn cung và cầu thanh khoản đến cùng nhau và tạo thành trạng thái thanh khoản ròng. Trạng thái này của một ngân hàng được xác định: NLP = Tổng cung về thanh khoản – Tổng cầu về thanh khoản 1. Phân loại trạng thái thanh khoản Thứ nhất, trạng thái thặng dư thanh khoản.
Khi cung thanh khoản vượt quá cầu thanh khoản (NLP>0), ngân hàng đang ở trạng thái thặng dư thanh khoản. Thặng dư thanh khoản là một trạng thái ngân hàng tăng vốn quá nhanh trong khi chưa có phương án sử dụng vốn hiệu quả, thu nợ không trùng với cầu thanh khoản dẫn đến thừa thanh khoản. Thặng dư thanh khoản của một ngân hàng là do không khai thác hết tiềm năng của tài sản Có làm giảm lợi nhuận của ngân hàng. Trường hợp thừa thanh khoản, nhà quản trị ngân hàng cần nhanh chóng đưa ra các quyết định sử dụng nguồn vốn dư thừa để tìm kiếm lợi nhuận như: Mua các chứng khoán dự trữ thứ cấp; tiền gửi tại các TCTD khác; Cho vay trên thị trường liên ngân hàng; Tìm kiếm khách hàng vay.
Thứ hai, trạng thái thâm hụt thanh khoản. Khi cầu thanh khoản vượt quá cung thanh khoản (NLP<0), ngân hàng phải đối mặt với tình trạng thâm hụt tài khoản. Ngân hàng sẽ mất cơ hội đầu tư tốt có thể mang lại lợi nhuận cho ngân hàng, 5 thậm chí có khả năng mất khách hàng khi họ phải đến ngân hàng khác để đáp ứng kịp thời các món vay. Không đáp ứng yêu cầu rút tiền làm giảm lòng tin của người gửi tiền, khả năng huy động vốn của ngân hàng kém đi, thậm chí người gửi tiền có thể nghi ngờ ngân hàng phá sản dẫn đến ồ ạt đến ngân hàng rút tiền.
Trong trường hợp này, nhà quản trị phải đưa ra quyết định ở đâu và vào thời điểm nào cần phải bổ sung thanh khoản để đáp ứng nhu cầu vốn với chi phí thấp nhất và kịp thời nhất. Một số biện pháp ngân hàng có thể áp dụng: Bán dự trữ thứ cấp, vay qua đêm, vay tái chiết khấu, phát hành chứng chỉ tiền gửi. Thứ ba, trạng thái cân bằng thanh khoản: Khi cung và cầu thanh khoản cân bằng nhau (nghĩa là NLP=0), tình trạng này được gọi là cân bằng thanh khoản. Tuy nhiên, trường hợp này rất khó xảy ra trên thực tế.
Rủi ro thanh khoản tại ngân hàng thương mại Ngân hàng được xem là một trong các lĩnh vực đối mặt với nhiều rủi ro nhất. Các loại rủi ro có mối quan hệ chặt chẽ và tác động qua lại với nhau đều có thể gây ra tổn thất lớn cho hệ thống ngân hàng thương mại. Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng được hiểu là những biến cố không mong muốn mà khi xảy ra sẽ dẫn đến sự tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành được một nghiệp vụ tài chính nhất định. Một số rủi ro cơ bản trong kinh doanh như rủi ro tín dụng, rủi ro tỷ giá hối đoái, rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản, rủi ro tác nghiệp.
Rủi ro tín dụng là rủi ro phát sinh khi ngân hàng không thu được đầy đủ cả gốc và lãi của khoản vay, hoặc là việc khách hàng thanh toán nợ gốc và lãi không đúng kỳ hạn như đã ký kết với ngân hàng trong hợp đồng. Rủi ro lãi suất là khả năng xảy ra tổn thất cho ngân hàng khi lãi suất thay đổi ngoài dự tính. Rủi ro hối đoái là khả năng xảy ra tổn thất với ngân hàng khi tỷ giá hối đoái thay đổi vượt quá dự tính của ngân hàng. 6 Rủi ro thanh khoản là rủi ro liên quan đến việc ngân hàng thiếu ngân quỹ hoặc tài sản ngắn hạn mang tính khả thi để đáp ứng nhu cầu của người gửi tiền và người đi vay.
Rủi ro tác nghiệp là rủi ro phát sinh do yếu tố con người gây ra trong quá trình xử lý công việc, do sự yếu kém trong hệ thống công nghệ, thông tin, sự sơ hở thiếu các quy định của các Ngân hàng thương mại. Khái niệm rủi ro thanh khoản Rủi ro thanh khoản là loại rủi ro đặc trưng và phổ biến trong hoạt động NHTM. Rủi ro thanh khoản là loại rủi ro khi ngân hàng không có khả năng cung ứng đầy đủ lượng tiền mặt cho nhu cầu thanh khoản tức thời; hoặc cung ứng đủ nhưng với chi phí cao. Nói cách khác, đây là loại rủi ro xuất hiện trong trường hợp ngân hàng thiếu khả năng chi trả do không chuyển đổi kịp các loại tài sản ra tiền mặt hoặc không thể vay mượn để đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng thanh toán.
Nguyên nhân dẫn đến rủi ro thanh khoản tại ngân hàng thương mại 1. Nguyên nhân phát sinh từ môi trường kinh tế vĩ mô Thứ nhất, do thị trường kinh doanh biến động nhanh, khó dự đoán của thị trường trong nước và quốc tế như: khủng hoảng hoặc suy thoái, lạm phát cao, tỷ giá hối đoái biến động bất thường. Các biến động tiêu cực làm cho giá cả sản phẩm tăng cao, đầu ra của sản phẩm thu hẹp hoặc thậm chí là không có đầu ra. Hàng hóa bị ứ đọng không tiêu thụ được làm giảm lợi nhuận của khách hàng hoặc không thu hồi được vốn bỏ ra kinh doanh.
Khách hàng không có tiền trả nợ ngân hàng, thậm chí có khách hàng có thể bị phá sản, ngân hàng có nguy cơ mất tiền cho vay. Thứ hai, văn bản quy phạm pháp luật còn nhiều hạn chế: Hiện nay, hệ thống luật và các văn bản quy phạm pháp luật đã đươc ban hành và đi vào áp dụng, tuy nhiên hệ thống này vẫn chưa đầy đủ, việc triển khai còn nhiều vướng mắc, bất cập, chưa tạo nhiều điều kiện cho các NHTM chủ động trong hoạt động kinh doanh, duy trì thanh khoản. Mặc khác, việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật vẫn chưa phù hợp với tiềm lực hiện nay của các ngân hàng thương mại trong cả nước. Điều này khiến cho việc áp dụng các văn bản này bị kéo dài thời gian, trì trệ, các văn bản 7 mới liên tục được ban hành mà vẫn chưa áp dụng hoàn tất văn bản pháp luật, quy định cũ.
Thứ ba, tiêu chuẩn để cấp phép hoạt động như cho một ngân hàng như vốn điều lệ tối thiểu 3.000 tỷ đồng, tổng tài sản tối thiểu đạt ở mức 100.000 tỷ đồng thì khả năng đảm bảo cho các vấn đề thanh khoản còn thấp. Hiện nay, số lượng các NHTM tính trên cả nước đang ở mức cao, mật độ phân bổ các chi nhánh, phòng giao dịch ở mỗi tỉnh thành tương đối dày đặc. Tuy nhiên, chất lượng và nguồn lực của các ngân hàng không tương đồng, do đó, khi yêu cầu tăng vốn điều lệ lên 3.000 tỷ đồng được đưa ra, các ngân hàng có nguồn lực yếu kém dần dần bị khai trừ hoặc phải có kế hoạch sáp nhập với các ngân hàng khác có nguồn lực mạnh hơn để thoát khỏi rủi ro thanh khoản dẫn đến phá sản. Thứ tư, các thị trường tài chính hoạt động kém hiệu quả, việc quản lý thị trường liên ngân hàng chưa tốt, các sản phẩm giao dịch trên thị trường tài chính chưa đa dạng, không tạo tính chủ động cho NH về tìm kiếm vốn hoặc gia tăng lợi nhuận.
Thứ năm, trình độ quản lý vĩ mô của chính phủ còn yếu kém.