CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 1.1 Các công trình nghiên cứu có liên quan Quá trình thu thập tài liệu trong thư viện cũng như trên các phương tiện truyền thông thông tin, hiện tại có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề quản trị rủi ro tín dụng ngân hàng nhưng đề tài hẹp về rủi ro nhận tài sản thế chấp thì rất ít, một số đề tài có đề cập đến nội dung này nhưng với phạm vi nhỏ như một mục, một thực trạng, giải pháp trong kết cấu toàn luận văn. Với việc lựa chọn đề tài này, tác giả sẽ đi sâu, phân tích kỹ, đánh giá và đưa ra những giải pháp, những khuyến cáo giàu tính thực tiễn để hạn chế một số sai lầm vẫn thường gặp hiện nay tại các NHTM. Một số công trình nghiên cứu tham khảo: Luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Thị Ánh Thủy về “Nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế”- Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh năm 2009: Luận văn đã thống kê được một số rủi ro tín dụng chính, trong đó, rủi ro từ tài sản thế chấp là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc tổn thất, giảm hiệu quả kinh doanh. Tuy nhiên, phạm vi đề tài chỉ dừng ở việc nêu lên thực trạng nhận tài sản thế chấp chưa đảm bảo, giảm giá tài sản trong quá trình cho vay, chưa phân tích sâu bản chất, nguyên nhân.
Do việc phân tích còn nhiều hạn chế, nguyên nhân rủi ro chưa được nhìn nhận thấu đáo nên giải pháp đề xuất để nâng cao chất lượng rủi ro liên quan đến tài sản thế chấp chỉ dừng ở việc cải thiện quy trình nhận tài sản, nâng cao năng lực cán bộ. Đây là những giải pháp thiếu tính cụ thể, tính thực tiễn còn nhiều hạn chế. Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lưu Thị Việt Hoa về “Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam” – Trường Đại học 7 Ngoại thương năm 2014: Luận văn tập trung vào hoạt động quản trị rủi ro tại Vietinbank, thực trạng quản trị rủi ro chú trọng đến góc độ quản trị (chiến lược quản trị rủi ro tín dụng chưa toàn diện, mô hình quản trị rủi ro tín dụng chưa phù hợp, quy trình cấp tín dụng còn nhiều bất cập, phụ thuộc vào một số khách hàng lớn …), nội dung liên quan đến hoạt động nhận tài sản thế chấp ảnh hưởng đến hoạt động quản trị rủi ro nhận tài sản còn hạn chế (hoàn thiện khung quản trị rủi ro tín dụng, xây dựng lại quy trình cấp tín dụng, tiếp tục lộ trình hoàn thiện RRTD theo chuẩn quốc tế…). Những giải pháp để cải thiện chất lượng quản trị rủi ro trong nhận tài sản thế chấp chưa được cụ thể theo chuyên đề, những giá trị thực tiễn của vấn đề còn hạn chế, đặc biệt trong bối cảnh đầy biến động của thị thường, môi trường pháp lý … Luận văn thạc sỹ của tác giả Cao Thị Lan Hương về “Quản trị rủi ro tín dụng nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh trong Ngân hàng TMCP Hằng Hải Việt Nam - MSB” – Trường Đại học Ngoại thương năm 2010: Luận văn đã đề cập đến tất cả các mặt hoạt động của MSB, những rủi ro ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động.
Đối với nội dung rủi ro trong nhận tài sản thế chấp, tác giả có nêu qua một số nội dung “Phương thức quản lý TSTC, đặc biệt là hàng hóa còn lỏng lẻo dẫn đến trường hợp khách hàng tự động bán TSTC không thông báo cho Ngân hàng mà cán bộ tín dụng phụ trách khách hàng cũng không theo dõi, kiểm soát được. Đây một phần cũng do nguyên nhân cán bộ tín dụng không chú trọng nhiều đến khâu quản lý sau khi giải ngân… Việc hoàn thiện thủ tục đảm bảo tiền vay thường chậm so với phê duyệt của HSC hoặc không đầy đủ theo quy định pháp luật như việc đăng ký giao dịch bảo đảm, việc mua bảo hiểm và chuyển nhượng quyền thụ hưởng bảo hiểm cho Maritime Bank đối với tài sản bảo đảm … Những giải pháp của đề tài mang tính định hướng và phổ biến. Những giải pháp để hạn chế những rủi ro phát sinh từ tài sản thế chấp được lồng gép 8 trong hệ thống giải pháp chung, chưa có sự phân tách cụ thể để đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Việt Hưng về “Các giải pháp tăng cường quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng Techcombank Hà Nội” – Trường Học viện Ngân hàng năm 2012: Luận văn đề cập đến rủi ro tài sản thế chấp với tư duy tài sản là nguồn thu dự phòng mà chưa nhận thức đủ về những rủi ro từ tài sản thế chấp.
Một điều kiện chủ yếu trong bất kỳ một quyết định cho vay nào là mức độ của tài sản thế chấp hoặc tài sản làm đảm bảo cho các khỏan vay. Có những khoản vay (hoặc trái phiếu) có đảm bảo bằng các tài sản cụ thể như nhà xưởng, thiết bị nhưng cũng có những khoản vay (hoặc trái phiếu) không có đảm bảo. Hiển nhiên, khả năng thu hồi nợ của các khoản vay có đảm bảo chắc chắn hơn các khoản vay không có đảm bảo. Điều đó không có nghĩa là các khoản vay có thế chấp không chứa đựng rủi ro tín dụng tiềm năng, trừ khi giá trị thị trường của tài sản thế chấp luôn vượt một cách đáng kể giá trị khoản vay.
Ngay cả trong trường hợp này thì việc siết nợ các tài sản thế chấp cũng mất nhiều thời gian, tốn kém và đôi khi gặp những phiền toái không lường trước được. Vì thế trong mọi trường hợp tài sản thế chấp chỉ được coi là nguồn trả nợ dự phòng. Những giải pháp đề xuất chưa mang tính cụ thể đối với thực trạng tài sản thế chấp, nội dung được hiểu chung trong những giải pháp quản trị rủi ro như Lập quỹ dự phòng rủi ro tín dụng; Thông tin khách hàng cần được đánh giá đầy đủ và chính xác; Đẩy mạnh công tác tổ chức và đào tạo cán bộ quản lý và nhân viên tín dụng; Đẩy mạnh công tác kiểm soát nội bộ Luận văn thạc sỹ của tác giả Phạm Thanh Hương về “Giải pháp tăng cường quản trị rủi ro tín dụng tại NHTMCP Quân Đội - MB” – Trường ĐH KTQD, năm 2011: Dựa vào cơ sở thực hiễn hoạt động tín dụng tại NHTM CP 9 Quân Đội thời gian qua, tác giả nhận thất rủi ro tín dụng chưa được kiểm soát một cách hiệu quả và đang có xu hướng gia tăng, trong đó, một trong những nguyên nhân được nêu lên là việc thiếu hiệu quả trong việc xử lý tài sản thế chấp. Tuy nhiên, những nguyên nhân dẫn đến việc hạn chế trong việc xử lý tài sản thế chấp chưa được tác giả khai thác triệt để.
Đặc biệt là những hạn chế trong việc nhận tài sản thế chấp như tính pháp lý của tài sản không đầy đủ, tính thanh khoản không đảm bảo, giá trị định giá sai lệch lớn so với giá trị thị trường, tài sản có tranh chấp, tài sản không có giá trị sử dụng …. Từ việc chưa nhận thức đủ những hạn chế của việc nhận tài sản thế chấp, tác giả đã chưa đưa ra được nhiều giải pháp nhằm cải thiện được thực trạng này. Những giải pháp của đề tài tập trung chủ yếu là nguyên nhân chủ quan của ngân hàng khi hoạt động xử lý tài sản chưa đảm bảo hiệu quả, những Luận văn thạc sỹ của tác giả Chu Văn Sơn về “Quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Bắc Á” – Trường ĐH KTQD, năm 2008: Luận văn tập trung đi sâu nghiên cứu quản lý rui ro tín dụng của Ngân hàng TMCP Bắc Á, đây là một NGTM CP có quy mô nhỏ, trụ sở chính tại TP Vinh, tỉnh Nghệ An. Đề tài có đề cập đến rủi ro tín dụng xuất phát từ tài sản thế chấp nói chung nhưng chưa có giải pháp cụ thể để giải quyết triệt để vấn đề này.
Luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Duy Hoàng về “Nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam –Chi nhánh Tây Hồ” - Trường Học viện Ngân hàng, năm 2013: Luận văn nghiên cứu về chất lượng tín dụng, nguyên nhân và giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại BIDV Tây Hồ. Nội dung của công trình nghiên cứu có đề cập đến rủi ro tín dụng do việc quản trị rủi ro nhận tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất thiếu hiệu quả, dẫn đến việc Chi nhánh Tây Hồ không xử lý được một số tài sản thế chấp để thu hồi nợ vay. Tuy nhiên, đề tài chưa đưa ra được nhiều nguyên nhân, thực trạng chung và giải pháp để khắc phục. 10 Luận văn thạc sỹ của tác giả Bùi Thị Mai Phương về “Nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam –Chi nhánh Tây Hồ” – Trường ĐH KTQD, năm 2014: Luận văn nghiên cứu về chất lượng tín dụng, nguyên nhân và giải pháp cải thiện chất lượng tín dụng đầu tư.
Đề tài chưa đi sâu vào nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng từ việc nhận tài sản thế chấp.2 Những tồn tại và hướng nghiên cứu của đề tài Tuy gần đây, vấn đề quản trị rủi ro tín dụng trong NHTM được quan tâm và xuất hiện nhiều trong các đề tài thảo luận, đề tài nghiên cứu, đặc biệt là những giải pháp xử lý tài sản thế chấp nhưng chúng ta vẫn chưa thấy được hiệu quả khả quan. Từ năm 2012 đến 2014, tỷ lệ nợ xấu của hệ thống ngân hàng không ngừng tăng lên, và nợ có nguy cơ mất vốn chiếm tỉ lệ cao trong tổng số nợ xấu, tỷ lệ nợ xấu năm 2013 là 3,79%, năm 2014 là 3,25%, hầu hết các ngân hàng đều báo cáo nợ xấu gia tăng. Theo một số cá nhân được phỏng vấn thì số liệu nợ xấu được công bố trên phương tiện thông tin đại chúng chỉ là số “ảo”, con số thực tế còn lớn hơn nhiều. Những yếu kém chưa được cải thiện trong công tác quản trị rủi ro này phần lớn do quan điểm xem quản trị rủi ro chỉ là hoạt động hỗ trợ.
Các bộ phận liên quan thường xem quản trị rủi ro là công việc thường nhật, mang tính chất thủ tục nhiều hơn, trong khi thực tế, công tác quản trị rủi ro không đơn giản như vậy và cán bộ ngân hàng chưa có nhận thức đầy đủ về mức độ quan trọng của công tác này.