Chương 1: Những vấn đề cơ bản về quản trị RRTN của NHTM Chương 2: Thực trạng quản trị RRTN tại Ngân hàng TMCP Á Châu Chương 3: Giải pháp và kiến nghị hoàn thiện công tác quản trị RRTN tại Ngân hàng TMCP Á Châu Kết luận Tài liệu tham khảo Phụ lục ` 4 CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÁC NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Rủi ro trong hoạt động của ngân hàng thƣơng mại: 1. Khái niệm rủi ro: Thuật ngữ rủi ro thường được sử dụng với ý nghĩa như là “Sự không chắc chắn” và được tiếp cận dưới những góc độ khác nhau. Theo cách hiểu truyền thống thì rủi ro là khả năng xảy ra những sự cố bất ngờ làm xuất hiện các khoản thiệt hại tài chính.
Theo cách hiểu hiện đại thì rủi ro không những là những sự cố gây ra thiệt hại tài chính mà còn có những thiệt hại liên quan đến hoạt động bền vững và phát triển của chủ thể. Theo Tiến sĩ Nguyễn Thị Cẩm Thủy, Đại học ngân hàng thì “Rủi ro là những sự kiện xảy ra không chắc chắn trong tương lai làm cho chủ thể không đạt được những mục tiêu chiến lược và mục tiêu hoạt động, cũng như chi phí cơ hội của việc làm mất đi những cơ hội thị trường” (Nguyễn Thị Cẩm Thủy, 2013) Rủi ro là vấn đề tất yếu không thể loại trừ trong hoạt động kinh doanh ngay cả khi có mọi biện pháp ngăn ngừa rủi ro, đặc biệt là trong hoạt động tài chính ngân hàng. Rủi ro, có những loại nhận diện được, có những loại tiềm ẩn và có những loại xảy ra bất thường. Mọi sự thay đổi trong môi trường kinh doanh, cũng như sự chủ quan lơi lỏng kiểm soát rủi ro cũng mang đến nhiều rủi ro.
Các loại rủi ro chủ yếu: Trong hoạt động tài chính ngân hàng Việt Nam hiện nay, một số rủi ro cơ bản trong từng lĩnh vực được tổng hợp như sau: - Rủi ro thanh khoản: phát sinh chủ yếu từ xu hướng các ngân hàng huy động ngắn hạn đem cho vay dài hạn, dẫn đến việc ngân hàng thiếu khả năng chi trả hoặc không chuyển đổi kịp thời các loại tài sản ra tiền theo yêu cầu của các hợp đồng thanh toán. Tình trạng thiếu hụt thanh khoản ở mức độ lớn là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự phá sản của ngân hàng. - Rủi ro tín dụng: là loại rủi ro thất thoát tài sản có thể phát sinh khi một bên đối tác không thực hiện một nghĩa vụ tài chính hoặc nghĩa vụ theo hợp đồng đối với một Ngân hàng, bao gồm cả việc không thực hiện thanh toán nợ cho dù là nợ gốc hay nợ lãi khi khoản nợ đến hạn. ` 5 - Rủi ro thị trường: bao gồm các rủi ro gây tác động tiêu cực đối với thu nhập hoặc vốn của Ngân hàng do những biến động bất lợi của các yếu tố thị trường; bao gồm các loại rủi ro: + Rủi ro lãi suất: thể hiện rủi ro tiềm tàng do các biến động của lãi suất.
Rủi ro xuất hiện khi có sự thay đổi của lãi suất thị trường hoặc của những yếu tố có liên quan đến lãi suất dẫn đến tổn thất về tài sản hoặc làm giảm lợi nhuận và giảm giá trị ròng của Ngân hàng. + Rủi ro ngoại hối (rủi ro tỷ giá): phát sinh khi có sự chênh lệch về kỳ hạn, về loại tiền tệ của các khoản ngoại hối đang nắm giữ, vì thế làm cho Ngân hàng có thể phải gánh chịu thua lỗ khi tỷ giá ngoại hối biến động. + Rủi ro giá cả: là rủi ro về việc giá trị các tài sản của một ngân hàng có thể biến động. Rủi ro này xuất hiện trong tất cả các loại tài sản, từ bất động sản đến cổ phiếu và trái phiếu… - Rủi ro pháp lý: thường tác động đến ngân hàng theo hai cách: + Các khách hàng và những người khác có thể khởi kiện ngân hàng với lý do có thể phát sinh từ quá trình hoạt động kinh doanh bình thường.
+ Khi các thu xếp pháp lý của một ngân hàng, ví dụ, các hợp đồng cho vay và tài sản đảm bảo tiêu chuẩn của ngân hàng đó có vấn đề hoặc Nhà nước đột ngột thay đổi chính sách vĩ mô về cơ cấu kinh tế, lĩnh vực ưu tiên… Điều này có thể dẫn đến rủi ro thua lỗ cho ngân hàng. - Rủi ro chiến lược kinh doanh và phát triển: phát sinh từ các thay đổi trong môi trường hoạt động của ngân hàng trên phạm vi rộng hơn về mặt kinh doanh và tài chính. Rủi ro chiến lược cũng có thể phát sinh từ các hoạt động của bản thân ngân hàng. - Rủi ro uy tín: là rủi ro khi phát sinh những quan điểm tiêu cực của công chúng và dư luận đánh giá xấu về ngân hàng.
Rủi ro này còn có khả năng kéo dài trong quan niệm của công chúng sẽ gây khó khăn nghiêm trọng cho ngân hàng trong việc tiếp cận các nguồn vốn hoặc khả năng thiết lập và duy trì các mối quan hệ khách hàng - Rủi ro hoạt động hay còn gọi là rủi ro vận hành hoặc rủi ro tác nghiệp: Rủi ro này được xem là loại rủi ro mới được Basel II bổ sung. Rủi ro này bao gồm ` 6 toàn bộ các rủi ro có thể phát sinh từ cách thức mà một ngân hàng điều hành các hoạt động của mình. Mối liên quan giữa các loại rủi ro: Các loại rủi ro có mối quan hệ biện chứng với nhau, một rủi ro này xảy ra sẽ kéo theo một loạt các rủi ro khác. Trong kinh doanh ngân hàng, rủi ro tác nghiệp thường đan xen để cộng hưởng với các rủi ro khác.
Rủi ro tác nghiệp tồn tại song song với các rủi ro khác gắn với tất cả các khâu nghiệp vụ từ hội sở đến kênh phân phối và các đơn vị chức năng. Rủi ro tác nghiệp có khả năng ảnh hưởng nhiều nhất đến các rủi ro khác nếu không được chú trọng quản trị. Ví dụ: Nhân viên không tuân thủ quy trình, cấu kết (đây là rủi ro tác nghiệp) làm thất thoát tài sản (gây rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản…). Trong công tác quản trị rủi ro, ngân hàng cần quản trị hiệu quả rủi ro tác nghiệp để giảm thiểu nguy cơ xảy ra các loại rủi ro khác và giảm các tổn thất không đáng có của ngân hàng.
Rủi ro tác nghiệp trong hoạt động của Ngân hàng thƣơng mại: 1. Khái niệm rủi ro tác nghiệp: Rủi ro tác nghiệp còn được gọi là rủi ro hoạt động hay là rủi ro vận hành, là loại rủi ro khó lường nhất, bao gồm toàn bộ các rủi ro có thể phát sinh từ cách thức mà một ngân hàng điều hành các hoạt động của mình. Rủi ro tác nghiệp được Ủy ban Basel về giám sát Ngân hàng đưa vào “Hiệp ước vốn Basel mới” năm 1999, từ năm 2001 văn bản này được phát hành rộng rãi, sửa đổi bổ sung qua các kỳ Basel I, Basel II và hiện tại đã mở rộng thành Basel III. Ủy ban Basel đưa vấn đề rủi ro tác nghiệp vào nội dung sửa đổi Basel II, 2005: “Rủi ro tác nghiệp được định nghĩa là nguy cơ tổn thất do các quy trình, con người và hệ thống nội bộ không đạt yêu cầu hoặc không hoạt động hay do các sự kiện bên ngoài.
Khái niệm rủi ro tác nghiệp bao gồm cả rủi ro luật pháp nhưng không bao gồm rủi ro chiến lược và rủi ro uy tín doanh nghiệp”. Trong những năm qua, các NHTM Việt nam và trên thế giới đã phải gánh chịu những tổn thất không nhỏ do rủi ro tác nghiệp gây ra, ảnh hưởng rất lớn đến uy tín và tài sản của NHTM. Trong bối cảnh thị trường cạnh tranh ngày càng gay gắt và phức tạp thì việc tăng cường công tác quản trị rủi ro tác nghiệp là vô cùng cần thiết. Các loại rủi ro tác nghiệp: Theo Basel, 2001, phụ lục 2 thì RRTN được chia làm bảy loại chính sau: - RRTN liên quan đến tập quán làm việc và an toàn nơi làm việc: là rủi ro liên quan đến những thiệt hại từ những hành vi không phù hợp trong mối quan hệ với nhân viên như lương bổng, phúc lợi.và các vấn đề liên quan đến môi trường làm việc như an toàn lao động, an toàn sức khỏe người lao động… - RRTN liên quan đến khách hàng, sản phẩm, tập quán hoạt động kinh doanh: là các vi phạm dẫn đến tổn thất do cẩu thả, vi phạm quy định, quy chế trong quá trình thực hiện nghiệp vụ với khách hàng; do tính chất không phù hợp của sản phẩm hay do quan điểm kinh doanh hướng đến lợi nhuận mà không chủ trọng rủi ro xảy đến.
- RRTN liên quan đến gian lận nội bộ: là các tổn thất về tài sản và uy tín phát sinh từ các hành vi cố tình làm trái quy định của ngân hàng và pháp luật; giả mạo chữ ký, chứng từ; làm khống chứng từ; thực hiện các giao dịch không khai báo, không hợp pháp… - RRTN liên quan đến việc thực hiện, bàn giao, quản lý quy trình: là các tổn thất phát sinh từ các lỗi tác nghiệp trong quá trình thực hiện nghiệp vụ; quy trình tác nghiệp giữa các bộ phận, với các ngân hàng bạn, các đối tác khác - RRTN liên quan đến gián đoạn hoạt động kinh doanh, khuyết điểm của hệ thống: là những tổn thất từ việc kinh doanh bị gián đoạn, hệ thống công nghệ bị chậm, hệ thống hỗ trợ bị ngưng trệ… - RRTN liên quan đến thiệt hại tài sản: là những tổn thất do tài sản của ngân hàng bị hư hại, bị mất cắp do thiên tai hay từ một số nguyên nhân khác… - RRTN liên quan đến các yếu tố từ bên ngoài: là các thiệt hại đến từ các yếu tố bên ngoài như hacker trộm cắp thông tin, dữ liệu dẫn đến trộm tiền tài khoản khách hàng; cướp xe tiền ngân hàng, khủng bố… 1. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tác nghiệp: Theo định nghĩa của Basel II, có bốn nguyên nhân chính (con người, quy trình, hệ thống, sự kiện bên ngoài) và một số yếu tố khác dẫn đến RRTN như sau: 1. Con người: các rủi ro liên quan đến nhân viên ngân hàng, ban lãnh đạo ` 8 + Nhân viên không tuân thủ các quy trình, quy định của ngân hàng, NHNN và các văn bản pháp luật hiện hành.