phần mở đầu và kết luận, luận văn đƣợc kết cấu thành 4 chƣơng. Chƣơng 1: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận về quản trị rủi ro trong phát hành và thanh toán thẻ tại ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng quản trị rủi ro trong phát hành và thanh toán thẻ tại Ngân hàng TMCP Việt Nam thịnh vƣợng – Chi nhánh Đông Đô Chƣơng 4: Giải pháp hạn chế rủi ro trong phát hành và thanh toán thẻ tại Ngân hàng TMCP Việt Nam thịnh vƣợng – Chi nhánh Đông Đô 4 CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG PHÁT HÀNH VÀ THANH TOÁN THẺ TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Tổng quan các nghiên cứu có liên quan 1. Các nghiên cứu về hoạt động của thẻ ngân hàng Ngô Thị Ánh (2020) nghiên cứu đánh giá trực tiếp những ƣu điểm và hạn chế của BIDV Chi nhánh Trà Vinh trong hoạt động thẻ. Trên cơ sở phân tích số liệu thứ cấp các chỉ tiêu về dịch vụ thẻ qua các năm, so sánh BIDV với các ngân hàng thƣơng mại khác trên cùng địa bàn Trà Vinh, tác giả chỉ ra những rủi ro trong hoạt động kinh doanh thẻ khi BIDV Trà Vinh đẩy mạnh phát triển dịch vụ này. Tác giả đề xuất các hàm ý quản trị, nâng cao khả năng kiểm soát rủi ro trong kinh doanh thẻ tại BIDV Trà Vinh.
Công trình nghiên cứu rất có ý nghĩa thực tiễn đối với BIDV Trà Vinh vì đối tƣợng cụ thể đƣợc phân tích, đánh giá, so sánh chính là BTDV Trà Vinh. Tuy nhiên do chiến lƣợc, đặc điểm địa lý, kinh tế - xã hội địa bàn của mỗi chi nhánh ngân hàng đều rất khác nhau nên bài viết chƣa giải quyết đƣợc vấn đề vĩ mô cho đa số các ngân hàng thƣơng mại khác trên cả nƣớc, không thể đểm cá thể để đƣa ra giải pháp chung cho nền kinh tế. Bài viết chỉ ra đƣợc sự tăng trƣờng vƣợt bậc về số lƣợng thẻ phát hành nhƣng không đánh giá đƣợc số lƣợng thẻ thực sự hoạt động và mang lại lợi nhuận cho BIDV chi nhánh Trà Vinh. Vũ Thành Công (2018) nghiên cứu phân tích, đánh giá hoạt động thẻ tại VP Bank - Chi nhánh Đông Đô Chi nhánh cầu Giấy trong khoảng thời gian từ 2013- 2016.
Đây là giai đoạn bắt đầu xuất hiện tình trạng đơn vị chấp nhận thẻ và các đối tƣợng tội phạm lợi dụng kẽ hở của các thiết bị POS để thực hiện giao dịch khống, không mua bán hàng hóa, dịch vụ thật. Với hành lang pháp lý về thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam chƣa hoàn thiện, các đơn vị chấp nhận thẻ dễ dàng thông đồng với tội phạm để trục lợi, điều này luôn là vấn đề với các ngân hàng thanh toán trong khâu kiểm soát giao dịch. Vào khoảng thời gian này, VP Bank - Chi nhánh Đông Đô Chi nhánh cầu Giấy cũng là một trong những ngân hàng đầu 5 tiên trong hệ thống đƣợc trang bị thiết bị POS không dây. Nhận thấy rủi ro từ chính các thiết bị POS không dây bị đơn vị chấp nhận thẻ mang ra khỏi nơi đăng ký lắp đặt, tác giả đã đƣa ra đƣợc giải pháp yêu cầu đơn vị chấp nhận thẻ hằng ngày phải tổng kết giao dịch và gửi hỏa đơn chứng từ về chi nhánh để cán bộ phụ trách kiểm soát.
Công trình nghiên cứu giải quyết đƣợc vấn đề tức thời tại VP Bank - Chi nhánh Đông Đô chi nhánh cầu Giấy. Tuy nhiên giải pháp mà tác giả đƣa ra còn nhiều hạn chế khi mà số lƣợng nhân viên phòng Dịch vụ & Marketing của chi nhánh chỉ cỏ bốn ngƣời, phải kiêm nhiệm rất nhiều mảng nghiệp vụ khác nhƣ thanh toán quốc tế, kiều hối. Việc giám sát thủ công và thu thập hóa đơn chứng từ của đơn vị chấp nhận thẻ hằng ngày là vô cùng khó khăn. Lê Thị Hoài (2016) trình bày cơ sở lý thuyết về hoạt động thanh toán thẻ tại Việt Nam, chỉ rõ ra các rủi ro đối với các nhân tố tham gia vào hoạt động thẻ, mối quan hệ giữa các nhân tố này ảnh hƣởng thế nào đến quá trình thanh toán thẻ, kẽ hở để tội phạm lợi dụng và trục lợi, từ đó đề xuất một số giải pháp và kiến nghị để giảm thiểu rủi ro cũng nhƣ hoàn thiện hoạt động thanh toán thẻ tại Việt Nam.
Vì bài viết không đề cập đến quy trình thanh toán bù trừ liên ngân hàng qua tổ chức thẻ quốc tế cũng nhƣ qua Công ty cổ phần Thanh toán quốc gia (NAPAS) nên khi nhận diện rủi ro trong thanh toán thẻ đã bỏ qua yếu tố rủi ro hệ thống. Phạm Ngọc Ngoạn (2012), đã nêu lên cơ sở khoa học về quản lý nhà nƣớc đối với dịch vụ thẻ thanh tại tại các NHTM Việt nam, trong đó đề cập đến các nội dung quản lý nhà nƣớc phòng ngừa và chống rủi ro trong dịch vụ thẻ thanh toán; Nêu thực trạng rủi ro trong dịch vụ thẻ thanh toán tại các NHTM Việt Nam, thực trạng quản lý nhà nƣớc đối với rủi ro trong dịch vụ thẻ thanh toán tại các NHTM Việt Nam và những hạn chế, nêu lên những kết quả đạt đƣợc, chỉ ra những hạn chế bất cập và nguyên nhân. Từ những thực trạng, những hạn chế và nguyên nhân, nghiên cứu đã đƣa ra giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nƣớc nhằm hạn chế rủi ro trong dịch vụ thẻ thanh toán tại các NHTM Việt Nam. Các nghiên cứu về quản trị rủi ro trong phát hành và thanh toán thẻ Hoài Sơn (2019) nghiên cứu đánh giá thực trạng rủi ro trong thanh toán thẻ tại Việt Nam thời gian qua.
Việc giám sát quản trị rủi ro trong thanh toán thẻ ngân 6 hàng hiện đang đƣợc NHNN tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các văn bản pháp lý liên quan thanh toán không dùng tiền mặt, dịch vụ trung gian thanh toán, cơ chế chia sẻ phí cho các giao dịch thanh toán thẻ nội địa trên ATM/POS, chế tài xử lý vi phạm trong thanh toán thẻ và trung gian thanh toán. số lƣợng giao dịch thanh toán thực hiện qua thẻ ngân hàng tăng trƣởng đều đặn qua các năm. Thanh toán qua thẻ ngân hàng tăng mang lại nhiều lợi ích cho xã hội, nhƣng đối với các đơn vị cung cấp dịch vụ thanh toán thì phải đối mặt với nhiều rủi ro tiềm ẩn hơn, nhất là khi thẻ ghi nợ và thẻ tín dụng ở Việt Nam hầu hết vẫn là thẻ từ.Tuy nhiên, bài viết chủ yếu mang tính chất cảnh báo các diễn biển mới trong hoạt động thanh toán thẻ ngân hàng, chƣa nêu lên đƣợc thực trạng quản trị rủi ro trong thanh toán thẻ tại các ngân hàng thƣơng mại trƣớc những thay đổi của thị trƣờng, chƣa vạch ra đƣợc phƣơng pháp phòng ngừa rủi ro trong thanh toán thẻ đê ngƣời dân cũng nhƣ ngân hàng chủ động có biện pháp bảo mật an toàn. Lê Thị Vân Khanh (2017), “Quản trị rủi ro hoạt động tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam”, luận án tiến sỹ.
Tác giả đã đƣa ra khái niệm về Hệ thống Quản trị rủi ro hoạt động tại các Ngân hàng thƣơng mại Việt Nam theo phạm vi nghiên cứu; đồng thời căn cứ trên khung lý thuyết và các tiêu chí đánh giá về Hệ thống Quản trị rủi ro nói chung và QTRR trong hoạt động nói riêng của các nghiên cứu trƣớc và Hiệp định Basel II, Luận án đã định nghĩa, luận giải và phân tích chi tiết các nhân tố trong hệ thống QTRR trong hoạt động tại các NHTM bao gồm (i) Quan điểm Lãnh đạo về QTRR trong hoạt động của Ban lãnh đạo cấp cao (ii) Cơ cấu tổ chức QTRR trong hoạt động (iii) Quá trình QTRR trong hoạt động thông qua các công cụ QTRR trong hoạt động (iv) Công nghệ thông tin (v) Đào tạo QTRR Đ (vi) Truyền thông QTRR trong hoạt động; Luận án cũng làm rõ định nghĩa và tiêu chí đo lƣờng mức độ ảnh hƣởng của từng nhân tố tới hiệu quả QTRR trong hoạt động. Từ thực trạng của việc thực hiện các nhân tố kết hợp với kết quả khảo sát, tác giả đã đề xuất các giải pháp phát triển hệ thống quản trị rủi ro hoạt động tại các Ngân hàng thƣơng mại Việt Nam. Luận án nghiên cứu ở phạm vi Quản trị rủi ro hoạt động chung của ngân hàng. 7 Phạm Thị Bích Duyên (Luận án tiến sĩ năm 2016) “Chất lượng dịch vụ thẻ ghi nợ tại các ngân hàng thương mại Việt Nam”; CHANTHAVONE HOMMATHEP (Luận án tiến sĩ năm 2018) “Phát triển kinh doanh thẻ của ngân hàng nông nghiệp Lào”.
Các nghiên cứu đã đƣa ra khái niệm bƣớc đầu về quản trị rủi ro trong phát hành tại các Ngân hàng thƣơng mại theo phạm vi nghiên cứu; đồng thời căn cứ trên khung lý thuyết và thực trạng hệ thống quản trị rủi ro hoạt động tại các ngân hàng; Xây dựng phƣơng pháp nghiên cứu và kết quả nghiên cứu mức độ ảnh hƣởng của các nhân tố đến hiệu quả quản trị rủi ro hoạt động tại các ngân hàng; Đƣa ra một số giải pháp phát triển hệ thống quản trị rủi ro hoạt động tại các ngân hàng từ các nhân tố đã đƣợc nghiên cứu. Nguyễn Danh Lƣơng (2015), đã đề cập đến khái niệm tranh chấp, rủi ro trong nghiệp vụ thẻ và các nguyên nhân xảy ra rủi ro. Tác giả cũng đã mô tả quy trình xử lý tra soát khiếu nại thẻ, tổng hợp tình hình chung về rủi ro của các loại thẻ trên thế giới và của một số ngân hàng Việt Nam. Từ thực trạng và một số nguyên nhận tồn tại, tác giả đã đƣa ra một số giải pháp quản trị rủi ro về thẻ.
Tuy nhiên, nghiên cứu mới chỉ sử dụng dữ liệu thứ cấp còn khiêm tốn đề phục vụ cho quá trình phân tích, đánh giá, chỉ nêu lên một số vụ việc rủi ro riêng lẻ chƣa có tính hệ thống; chƣa đi sâu nghiên cứu nguyên nhân rủi ro cũng nhƣ nguyên nhân của những hạn chế; một số giải pháp đƣa ra còn mang tính liệt kê đơn giản. Nguyễn Thị Thùy Trang (2012) trình bày rõ ràng những rủi ro với từng loại thẻ (thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ, thẻ trả trƣớc,.) và thực trạng quản trị rủi ro với các nhóm thẻ này. Đồng thời cũng đã nêu ra đƣợc vấn đề rất thực tế vào thời điểm đó là nạn sao chép thồng tin dữ liệu thẻ tại ATM và đƣa ra một hƣớng mở để thảo luận là có nên chặn các giao dịch rút tiền tại ATM trong khung giờ từ 23h- 5h là khung giờ tội phạm lợi dụng để thực hiện giao dịch khống.