CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.1 Rủi ro lãi suất tại Ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm rủi ro lãi suất Có nhiều khái niệm rủi ro lãi suất, có những khái niệm được nhắc đến nhiều như sau: Theo Timothi W.Koch (Bank Management 1995 – University of South Crolina): “rủi ro lãi suất là sự thay đổi tiềm tàng về thu nhập lãi ròng và giá trị thị trường của vốn ngân hàng xuất phát từ sự thay đổi của mức lãi suất” Theo Thomas P.Fitch (Dictionary of Banking Term 1997 –Barron’s Edutional Series Inc) thì “rủi ro lãi suất là rủi ro khi thay đổi lãi suất thị trường sẽ dẫn đến tài sản sinh lời giảm giá trị” Theo từ điển kinh tế Oxford, lãi suất được định nghĩa là "phí thực hiện cho vay vốn tài chính thể hiện như một phần của khoản vay ", lãi suất là chi phí được trả cho người cho vay để được sử dụng vốn vay đó. Đây là phương pháp cơ bản của kinh doanh, trong đó một ngân hàng thương mại kiếm được lợi nhuận cho vay đối với khách hàng. Ngược lại, khách hàng cũng có thể đạt được lợi nhuận bằng cách gửi tiền vào một ngân hàng. Do đó, rủi ro lãi suất là biến động bất lợi của lãi suất hay thay đổi hoặc các yếu tố khác liên quan đến lãi mà gây ra thay đổi bất ngờ trong tiền lãi nhận được bởi người cho vay.
Theo Ủy Ban Basel về giám sát Ngân hàng, 2004: "Rủi ro lãi suất là rủi ro điều kiện tài chính của Ngân hàng chịu những biến động bất lợi về lãi suất. Chấp nhận rủi ro này là một phần trong hoạt động ngân hàng và có thể là một nguồn sinh lợi cũng như tạo giá trị cho cổ đông." (theo Ủy Ban Basel về Giám Sát Ngân Hàng, 2004) Theo quan niệm chung: rủi ro lãi suất là loại rủi ro xuất hiện khi có sự thay đổi của lãi suất thị trường hoặc những yếu tố có liên quan đến lãi suất dẫn đến nguy cơ biến động thu nhập và giá trị ròng của ngân hàng.2 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro lãi suất Rủi ro lãi suất có thể xuất phát từ các nguyên nhân sau đây: 1.1 Không cân xứng về kỳ hạn giữa Tài sản và Nợ Các Tài sản và Nợ của ngân hàng có kỳ hạn khác nhau, mà yếu tố quan trọng là kỳ hạn đặt lại lãi suất. Khi chênh lệch giữa kỳ hạn Tài sản và kỳ hạn Nợ vượt kiểm soát sẽ gây ra rủi ro lãi suất khi lãi suất thị trường thay đổi. (Williamson 2008, 14) - Trường hợp 1: kỳ hạn của Tài sản lớn hơn kỳ hạn của Nợ (ngân hàng huy động vốn ngắn hạn để cho vay, đầu tư dài hạn): Rủi ro lãi suất sẽ xuất hiện khi lãi suất huy động trong những năm tiếp theo tăng lên, trong khi lãi suất cho vay và đầu tư dài hạn không đổi.
(Williamson 2008, 14) - Trường hợp 2: kỳ hạn của Tài sản nhỏ hơn kỳ hạn của Nợ (ngân hàng huy động vốn có kỳ hạn dài hạn để cho vay và đầu tư ngắn hạn): Rủi ro lãi suất sẽ xuất hiện khi lãi suất huy động trong những năm tiếp theo không đổi, trong khi lãi suất cho vay và đầu tư giảm xuống. (Williamson 2008, 14) Theo kỳ hạn, ngân hàng chia Tài sản và Nợ thành loại nhạy cảm với lãi suất và kém nhạy cảm với lãi suất. Trong đó, các Tài sản và Nợ nhạy cảm với lãi suất là các Tài sản và Nợ có số dư nhanh chóng được điều chỉnh lãi suất mới theo sự thay đổi lãi suất thị trường, ví dụ như: khoản tiền gửi ngắn hạn, các khoản đi vay và cho vay giữa các ngân hàng, các khoản huy động tiền gửi với kỳ hạn ngắn,. Các loại Tài sản, Nợ trung và dài hạn thuộc loại ít nhạy cảm với lãi suất.2 Ngân hàng áp dụng các loại lãi suất khác nhau trong huy động vốn và cho vay - Trường hợp 1: Ngân hàng huy động vốn với lãi suất cố định để cho vay, đầu tư với lãi suất biến đổi.
Khi lãi suất giảm, rủi ro lãi suất sẽ xuất hiện vì chi phi phí lãi không đổi, trong khi thu nhập lãi giảm, dẫn đến lợi nhuận ngân hàng giảm. (Williamson 2008, 14) - Trường hợp 2: Ngân hàng huy động vốn với lãi suất biến đổi, để cho vay với lãi suất cố định. Khi lãi suất tăng, rủi ro lãi suất xuất hiện vì chi phí lãi tăng theo lãi suất thị trường, trong khi thu nhập lãi không đổi dẫn đến lợi nhuận ngân hàng giảm.3 Không phù hợp về khối lượng giữa nguồn vốn huy động và sử dụng nguồn vốn đó Ngân hàng huy động vốn đầu vào mà không cân đối được đầu ra, làm cho việc sử dụng nguồn vốn chưa hiệu quả. Nếu lúc này lãi suất thì trường biến động gây ảnh hưởng theo chiều hướng xấu, hiệu quả kinh doanh của ngân hàng giảm mạnh.4 Sự thay đổi của lãi suất thị trường ngược chiều với dự kiến của ngân hàng Lãi suất tồn tại trên thị trường trong một thời kỳ nào đó, được hình thành trên những nguyên tắc nhất định buộc những đối tượng có tham gia vào quan hệ tín dụng phải tuân theo.
Mặt khác, lãi suất luôn biến động theo thị trường, nên trong nhiều trường hợp ngân hàng không thể dự báo chính xác mức độ thay đổi của lãi suất thị trường. Chính những sự thay đổi ngoài dự kiến của lãi suất đó gây nên rủi ro lãi suất cho ngân hàng. Việc dự báo sự biến động lãi suất có ảnh hưởng đến chiến lược của ngân hàng, cụ thể như sau: - Nếu ngân hàng duy trì giá trị Tài sản nhạy cảm với lãi suất lớn hơn giá trị Nợ nhạy cảm với lãi suất ( khe hở lãi suất dương). Khi lãi suất trên thị trường tăng, thu nhập từ lãi của ngân hàng sẽ tăng nhanh hơn chi lãi, chênh lệch lãi suất tăng, lợi nhuận ngân hàng sẽ tăng.
Ngược lại khi lãi suất thị trường giảm, thu từ lãi sẽ giảm nhanh hơn chi chi lãi, chênh lệch lãi suất sẽ giảm, làm giảm thu nhập của ngân hàng. Giả sử ngân hàng dự kiến trong tương lai mức lãi suất sẽ giảm thì khi đó chênh lệch lãi suất của ngân hàng sẽ tăng, vì thu từ lãi sẽ giảm chậm hơn chi lãi. Tuy nhiên thực tế thì rủi ro lãi suất lại tăng lên, làm cho thu nhập từ lãi của ngân hàng chậm hơn chi từ lãi, dẫn đến rủi ro lãi suất xảy ra đối với ngân hàng.5 Tỷ lệ lạm phát dự kiến không phù hợp với tỷ lệ lạm phát thực tế Trường hợp ngân hàng cho vay với lãi suất đã cộng với tỷ lệ lạm phát dự kiến, nhưng sau khi cho vay, tỷ lệ lạm phát thực tế cao hơn tỷ lệ lạm phát dự kiến làm cho thu nhập thực của ngân hàng bị giảm đi. (Williamson 2008, 14) Lãi suất cho vay danh nghĩa = Lãi suất thực + tỷ lệ lạm phát dự kiến.1) Trong đó: - Lãi suất cho vay danh nghĩa: là lãi suất cho vay được công bố của một khoản cho vay hoặc một khoản đầu tư.
- Lãi suất thực (lãi suất thực tế, lãi suất hiệu quả): là lãi suất mà nhà đầu tư thực sự thu được từ khoản cho vay, đầu tư sau khi đã loại trừ ảnh hưởng của lạm phát. - Tỷ lệ lạm phát dự kiến: tỷ lệ do phòng nghiên cứu, dự báo dự đoán dự trên tình hình thực tế trong một khoản thời gian nhất định nào đó. Ví dụ: Khi dự kiến lãi suất cho vay 8% = 3% ( lãi suất thực) + 5% ( dự kiến tỷ lệ lạm phát). Nhưng nếu sau khi cho vay, tỷ lệ lạm phát thực tế là 8% thì lãi suất thực của ngân hàng được hưởng là 0%.3 Các hình thức rủi ro lãi suất 1.1 Rủi ro về giá Khi lãi suất thị trường tăng làm cho giá trị thị trường của các trái phiếu và các khoản cho vay với lãi suất cố định của ngân hàng đang nắm giữ sẽ bị giảm giá.
Bởi lãi suất định kỳ (Coupon ) của trái phiếu và khoản cho vay đã được ấn định từ trước, lãi suất thị trường tăng làm cho lãi suất của các trái phiếu và các khoản cho vay mà ngân hàng nắm giữ trước đó trở nên thấp hơn lãi suất thị trường hiện tại. Khiến chúng bị giảm giá. Trái phiếu và các khoản cho vay có thời gian đáo hạn càng dài thì mức giảm giá càng lớn, nếu ngân hàng muốn bán đi các tài sản này thì phải chấp nhận tổn thất vì giá trị của chúng bị giảm đi so với trước. (Williamson 2008, 15) Khi lãi suất thị trường giảm, giá trái phiếu và các khoản cho vay với lãi suất cố định mà ngân hàng đang nắm giữ sẽ tăng.
Bởi lãi suất định kỳ (coupon) của trái phiếu và các khoản cho vay đã được ấn định từ trước, lãi suất thị trường giảm làm cho các trái phiếu cũ và các khoản cho vay với mức lãi suất cao hơn trở nên hấp dẫn hơn. Trái phiếu và các khoản cho vay có thời gian đáo hạn càng dài thì mức độ tăng giá càng cao. Ngược lại, khi lãi suất thị trường tăng, giá trái phiếu và các khoản cho vay với lãi suất cố định mà ngân hàng đang nắm giữ sẽ giảm giá.2 Rủi ro tái đầu tư Xuất hiện khi lãi suất thị trường giảm, làm cho ngân hàng chấp nhận đầu tư nguồn vốn của mình vào những tài sản có mới với mức sinh lời thấp hơn. Trong thực tế, ngân hàng không thể kiểm soát mức độ và xu hướng biến động của lãi suất thị trường, nên chỉ có thể phản ứng và điều chỉnh hoạt động của mình theo sự biến động của lãi suất thị trường.
Ngân hàng không thể là người tạo giá mà chỉ là người chấp nhận giá.4 Ảnh hưởng của rủi ro lãi suất đối với hoạt động ngân hàng Khi rủi ro lãi suất xuất hiện sẽ làm tăng chi phí nguồn vốn của ngân hàng, giảm thu nhập từ lãi của ngân hàng, làm giảm giá trị thị trường của tài sản và vốn chủ sở hữu của ngân hàng. Một là khía cạnh thu nhập: Với khía cạnh thu nhập, phân tích tập trung vào ảnh hưởng của thay đổi lãi suất với thu nhập dồn tích hay thu nhập theo báo cáo. Đây là cách tiếp cận truyền thống để đánh giá rủi ro của nhiều ngân hàng. Thu nhập trước đây được quan tâm nhiều nhất là thu nhập lãi thuần (chênh lệch giữa tổng thu nhập lãi và tổng chi phí lãi).
Hiện nay tập trung vào tổng thu nhập thuần- bao gồm cả thu nhập và chi phí lãi và ngoài lãi.