phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, Luận văn gồm 4 chƣơng nhƣ sau: 3 Chƣơng 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về quản trị rủi ro hoạt động đầu tƣ của doanh nghiệp bảo hiểm. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu và thiết kế luận văn. Chƣơng 3: Thực trạng quản trị rủi ro hoạt động đầu tƣ của doanh nghiệp bảo hiểm. Chƣơng 4: Giải pháp quản trị rủi ro hoạt động đầu tƣ của doanh nghiệp bảo hiểm.
4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƢ CỦA DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu liên quan đến luận văn 1. Nghiên cứu nước ngoài - Bài viết “The Impact of Corporate Governance on the Efficiency Performance of the Thai Non-Life Insurance Industry” của tác giả Wen-Yen Hsu và Pongpitch Petchsakulwong trên tạp chí Geneva về rủi ro và bảo hiểm năm 2010 là một nghiên cứu đặc biệt về bảo hiểm ở Châu Á, xem xét mối quan hệ giữa quản trị doanh nghiệp và hiệu quả hoạt động kinh doanh của các DNBH phi nhân thọ ở Thái Lan trong giai đoạn 2000 đến 2007. Phân tích bao dữ liệu DEA đƣợc sử dụng để tính toán hiệu suất của nhà bảo hiểm bao gồm hiệu quả kỹ thuật, phân bổ, chi phí và doanh thu với giả thiết quản trị doanh nghiệp tốt sẽ nâng cao hiệu quả HĐKD của DNBH phi nhân thọ với việc gán biến và các giả thuyết, trong đó H1: quy mô hội đồng quản trị; H2: sự độc lập của hội đồng quản trị; H3: tần suất họp hội đồng quản trị; H4: quy mô kiểm toán nội bộ; H5: tần suất cuộc họp của uỷ ban kiểm toán; H6: chuyên môn tài chính của uỷ ban kiểm toán.
Bằng việc mã hoá biến phụ thuộc và 13 biến độc lập, thống kê mô tả các biến trên dải dữ liệu từ năm 2000 đến 2007, nghiên cứu sử dụng phƣơng pháp hồi quy rút gọn dựa trên phần mềm STATA để kiểm tra mối quan hệ giữa hiệu quả hoạt động và quản trị doanh nghiệp bằng một phƣơng trình hồi quy. Kết quả cho thấy các đặc điểm của quản trị doanh nghiệp ảnh hƣởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các DNBH phi nhân thọ. Tính độc lập của hội đồng quản trị, tần suất họp hội đồng quản trị và quy mô doanh nghiệp có tác động tích cực đến hiệu suất hiệu quả. Ngƣợc lại, quy mô kiểm toán nội bộ, tần suất họp của ban kiểm toán, sự khác biệt giữa quyền biểu quyết và quyền dòng tiền, nhiệm kỳ hội đồng quản trị, tuổi hội đồng quản trị và quyền sở hữu hội đồng quản trị có tác động tiêu cực.
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy mối quan hệ không rõ ràng giữa hiệu quả hoạt động của 5 công ty bảo hiểm và quy mô hội đồng quản trị, tỷ lệ chuyên gia tài chính trong ủy ban kiểm toán và bồi thƣờng. Mặc dù nghiên cứu này chỉ sử dụng dữ liệu từ các DNBH phi nhân thọ công cộng của Thái Lan, nhƣng những phát hiện này có ý nghĩa đối với các cơ quan quản lý Thái Lan trong việc thiết lập các yêu cầu quản trị doanh nghiệp. Cụ thể, kết quả nghiên cứu cho thấy một hội đồng quản trị do các thành viên hội đồng quản trị độc lập chi phối đáng kể trong việc cải thiện hiệu quả hoạt động kinh doanh của DNBH. Thay vào đó, một ban giám đốc độc lập góp phần phát triển doanh nghiệp một cách bền vững.
Một hàm ý khác là tỷ lệ nắm giữ cổ phần của ban kiểm toán có thể tạo ra kết quả tiêu cực cho hoạt động của DNBH, đó sẽ là gợi ý cho các nghiên cứu tiếp theo. - Luận án tiến sĩ “Deregulation and productivity of the Vietnamese insurance industry” của tác giả Phạm Khắc Dũng năm 2007 tại trƣờng Quản trị kinh doanh Norwich, Đại học East Anglia, Vƣơng quốc Anh đã đánh giá sự ảnh hƣởng của những thay đổi về quản lý đối với sự phát triển của thị trƣờng bảo hiểm thƣơng mại ở Việt Nam. Luận án đã chỉ ra 2 phƣơng pháp tiếp cận lý thuyết để kiểm tra hiệu quả và ƣu đãi bao gồm: lý thuyết quyền sở hữu (ownership theories) và lý thuyết quản lý (regulation theory) qua các nghiên cứu trƣớc đó cùng với việc nghiên cứu các tài liệu về hiệu quả và năng suất trong ngành bảo hiểm nhƣ: khái niệm đo lƣờng hiệu quả; khái niệm đo lƣờng tổng năng suất; tổng quan về phƣơng pháp đo lƣờng hiệu quả; quy trình kinh doanh bảo hiểm theo đầu vào và theo đầu ra; tóm tắt các nghiên cứu thực nghiệm về hiệu suất bảo hiểm ở Anh, Mỹ, các nƣớc châu Âu, Nhật, Úc, Canada, New Zealand; Thái Lan, Ấn Độ… Có 2 phƣơng thức cơ bản để nghiên cứu hiệu suất bảo hiểm là tiếp cận không tham số nhƣ chƣơng trình toán học bao dữ liệu DEA (Data Envelopment Analysis) và tiếp cận có tham số nhƣ mô hình phần ngang; mô hình dữ liệu bảng; mô hình ảnh hƣởng ngẫu nhiên của nhân tố môi trƣờng. Luận án sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu toán học, ứng dụng vào các số liệu tài chính của các DNBH tại Việt Nam trong giai đoạn từ 1998 - 2004, đo lƣờng sự thay đổi hiệu quả kỹ thuật và năng suất trong 6 ngành bảo hiểm Việt Nam bằng 2 ứng dụng là: phân tích bao dữ liệu và phƣơng pháp chỉ số Malmquist DEA và phân tích ngẫu nhiên SFA.
Với các phƣơng pháp sẽ có những điểm số hiệu quả tƣơng đối và có những DNBH hoạt động không hiệu quả cũng nhƣ có những DN tiềm năng đang có sự cải thiện về hiệu quả trong mẫu lựa chọn. Cả thị trƣờng bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ đều có sự biến đổi lớn mức độ hiệu quả kỹ thuật với bình quân 64% đến 80% cho DNBH phi nhân thọ và 40% đến 60% cho DNBH nhân thọ. Kết quả nghiên cứu chỉ ra việc thay đổi các chính sách về quản lý tài chính đã có tác động nhất định đối với sự phát triển của ngành bảo hiểm. Qua đó, luận án đƣa ra một số kiến nghị nhằm thúc đẩy hơn nữa sự phát triển thị trƣờng bảo hiểm trong thời gian tới nhƣ thay đổi cấu trúc thị trƣờng, đa dạng hoá sở hữu, đào tạo dài hạn nguồn nhân lực, đẩy mạnh quản lý thị trƣờng bằng cách đƣa ra các quy định cạnh tranh lành mạnh, quản trị rủi ro bên cạnh đó trao quyền nhiều hơn cho những nhà quản lý bảo hiểm.
- Nghiên cứu “Insurance investment Rules are changing – Ready or not” của Dennis Lebar năm 2012 trên Information Week Insurance & Technology đã đề cao vai trò của NAIC (Hiệp hội các nhà quản lý bảo hiểm Mỹ) trong bối cảnh thu nhập đã thay đổi đáng kể trong 15 năm qua. Kể từ năm 1990, NAIC đã sử dụng luật đầu tƣ để hƣớng dẫn về mô hình pháp luật đầu tƣ bảo hiểm nhƣng các tiểu bang có thể ban hành và thực thi các quy định riêng của họ. Các DNBH sẽ thiết lập các chính sách và mục đích của các danh mục đầu tƣ của mình cũng nhƣ thiết lập giới hạn nội bộ trong đó phân tích rủi ro đóng vai trò quan trọng. NAIC đã khuyến khích các bang thích ứng với việc soạn điều lệ riêng của mình để hạn chế đầu tƣ vào các khoản đầu tƣ rủi ro.
Đặc biệt kể từ cuộc khủng hoảng 2008, các DNBH đã tập trung hơn vào chất lƣợng của các khoản đầu tƣ. Chính vì thế bài viết đề cao việc các chính sách, thủ tục đầu tƣ cũng nhƣ các công nghệ hỗ trợ cho các DNBH đƣợc cập nhật để bắt kịp theo các chủ trƣơng của NAIC. - Nghiên cứu của Mladenka Balaban, Viện Khoa học Kinh tế của Đại học Banja Luka: “Role of insurance company as institucional investor” nhấn mạnh vai 7 trò của các DNBH với tƣ cách là nhà đầu tƣ, nhƣ một tổ chức tài chính phi tiền gửi, là một phần quan trọng của cơ sở hạ tầng mà cạnh tranh với ngân hàng trong việc chuyển tiền tiết kiệm từ ngƣời dƣ tiền sang ngƣời thiếu tiền. Nghiên cứu đƣa ra các hình thức mà các DNBH có thể đƣợc đầu tƣ và các nguyên tắc đầu tƣ cơ bản.
Một trong những yếu tố quan trọng quyết định cấu trúc đầu tƣ của các DNBH trên thế giới, chắc chắn là mức độ phát triển của thị trƣờng tài chính ở mỗi một quốc gia. Yếu tố thứ hai đó là loại hình DNBH đó là nhân thọ hay phi nhân thọ. Khủng hoảng tài chính và mức độ lạm phát cũng ảnh hƣởng đến cấu trúc đầu tƣ của các DNBH. Bên cạnh đó, tác giả cũng nghiên cứu hoạt động đầu tƣ của các DNBH Serbia.
Các công ty ở Serbia rất khó quản lý danh mục đầu tƣ của mình và rủi ro thƣờng ở mức độ cao. Họ không tuân thủ chính sách cân bằng tài sản dài hạn và nợ dài hạn, đầu tƣ không phù hợp với quy mô và thời gian đáo hạn của các khoản nợ bảo hiểm. Thêm vào đó, danh mục đầu tƣ xây dựng không cho phép rủi ro tối thiểu và tỷ suất lợi nhuận tối đa đồng thời đảm bảo khả năng thanh khoản nhất định của doanh nghiệp trong trƣờng hợp số tiền thanh toán tăng lên do bồi thƣờng thiệt hại sẽ không đảm bảo đủ tỷ lệ lợi nhuận. Một điểm mới trong lĩnh vực quản lý quỹ đầu tƣ của các DNBH mà nghiên cứu cũng nhấn mạnh là khái niệm biên khả năng Solvency II giới thiệu một phƣơng pháp quy định thận trọng: "Các quốc gia thành viên không nên yêu cầu các công ty bảo hiểm và các nhà tái bảo hiểm đầu tƣ vào các loại tài sản cụ thể, bởi vì một yêu cầu nhƣ vậy không phù hợp với quyền tự do đi lại của vốn." (Chỉ thị Solvency II, Điều 72); "Toàn bộ tài sản, đặc biệt là tài sản phục vụ bảo hiểm SCR và MCR phải đƣợc đầu tƣ theo cách đảm bảo an toàn, chất lƣợng, tính thanh khoản và lợi nhuận của toàn bộ danh mục đầu tƣ.
Để trang trải các khoản dự phòng kỹ thuật cũng nên đƣợc đầu tƣ theo cách thức phù hợp với tính chất và thời hạn của trách nhiệm pháp lý của các công ty bảo hiểm "(Chỉ thị 2, Điều 132). Chỉ riêng biệt về khả năng chi trả II cho phép các quốc gia thành viên EU có khả năng áp đặt các khoản đầu tƣ hạn chế định lƣợng dành riêng cho những ngƣời đã đầu tƣ vào rủi ro không đƣợc tính đầy đủ bằng cách tính công thức tiêu chuẩn của SCR. Khủng hoảng kinh tế đã làm 8 chậm sự phát triển của thị trƣờng bảo hiểm, nhƣng vẫn có chỗ cho sự phát triển.