Chương 1: Cơ sở lí luận về quản trị hoạt động phát triển năng lực 6 chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viên tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp Chương 2: Thực trạng quản trị hoạt động phát triển năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viên tiểu học tại huyện Yên Phong, Tỉnh Bắc Ninh theo chuẩn nghề nghiệp Chương 3: Biện pháp quản trị hoạt động phát triển năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viên tiểu học tại huyện Yên Phong, Tỉnh Bắc Ninh theo chuẩn nghề nghiệp 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CHUYÊN MÔN, NGHIỆP VỤ CHO GIÁO VIÊN TIỂU HỌC THEO CHUẨN NGHỀ NGHIỆP 10. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Quản trị là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học trên các bình diện khác nhau: triết học, kinh tế học, xã hội học, tâm lý học,. Ở nước ngoài, nhiều nhà khoa học đã đưa ra các quan điểm khác nhau về quản trị, trong thời kỳ cận đại, quản trị đã từng bước tách khỏi triết học và dần trở thành một môn khoa học độc lập. Có thể nêu ra một số quan điểm tiêu biểu như: F.Fayol (1841-1925) cho rằng, quản trị là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và cuối cùng là kiểm tra (Thuyết quản trị hành chính); Mary Parker Follet (1868-1933) và Elton Mayor (1880-1949) với thuyết quản trị theo quan hệ con người, quan tâm thỏa đáng đến yếu tố con người, tâm lý tập thể và bầu không khí trong xí nghiệp; G.Munsterberge (1863-1916), Abraham Maslow (1908-1970), Douglas Mc Gregor (1906-1964) quan niệm quản trị theo hành vi.Weber và Chester Barnard sáng lập mô hình tổ chức để quản trị, coi trọng sự phân công sắp xếp vị trí từng người trong tổ chức, đồng thời đề cao tính nhân đạo và tính trồi của hệ thống.
Các nhà nghiên cứu quản trị giáo dục (QLGD) Xô Viết trong những công trình nghiên cứu của mình đã cho rằng: “Kết quả toàn bộ hoạt động của nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào công việc tổ chức đúng đắn và hợp lý công tác hoạt động của đội ngũ giáo viên” [30].Xukhomlinxki đã tổng kết những thành công cũng như những thất bại của 26 năm kinh nghiệm thực 8 tiễn làm công tác quản trị chuyên môn nghiệp vụ (CMNV) của một hiệu trưởng, cùng với nhiều tác giả khác ông đã nhấn mạnh đến sự phân công hợp lý, sự phối hợp chặt chẽ, sự thống nhất quản trị giữa hiệu trưởng và phó hiệu trưởng để đạt được mục tiêu hoạt động CMNV đã đề ra. Các tác giả đều khẳng định vai trò lãnh đạo và quản trị toàn diện của hiệu trưởng. Tuy nhiên trong thực tế cùng tham gia quản trị các hoạt động CMNV của nhà trường còn có vai trò quan trọng của các phó hiệu trưởng, các tổ chức chuyên môn và các tổ chức đoàn thể. Song làm thế nào để hoạt động CMNV của các trường tiểu học đạt kết quả cao nhất, huy động được tốt nhất sức mạnh của mỗi GV? Đó là vấn đề mà các tác giả đặt ra trong công trình nghiên cứu của mình.Xukhomlinxki cũng như các tác giả khác đều chú trọng đến việc phân công hợp lý và các biện pháp quản trị CMNV của hiệu trưởng [30].
Các nhà nghiên cứu cũng thống nhất cho rằng: Một trong những biện pháp hữu hiệu nhất để làm tốt công tác quản trị CMNV là phải xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ GV, phát huy được tính sáng tạo trong công việc của họ và tạo ra khả năng ngày càng hoàn thiện tay nghề sư phạm, phải biết lựa chọn GV bằng nhiều nguồn khác nhau và bồi dưỡng họ trở thành những GV tốt theo tiêu chuẩn nhất định, bằng những biện pháp khác nhau [30]. Trong số các biện pháp quản trị CMNV để nâng cao chất lượng mà tác giả quan tâm là việc tổ chức các hội thảo khoa học. Thông qua hội thảo, GV có những điều kiện trao đổi kinh nghiệm về CMNV để nâng cao trình độ của mình. Tuy nhiên để hoạt động này đạt hiệu quả cao, nội dung hội thảo khoa học phải được chuẩn bị kỹ, phù hợp và có tác dụng thiết thực đến dạy học.Xukhomlinxki và Xvecxlerơ còn nhấn mạnh đến biện pháp dự giờ, phân tích bài giảng, sinh hoạt tổ nhóm chuyên môn [30].
Xvecxlerơ cho rằng việc dự giờ và phân tích bài giảng là đòn bẩy quan trọng nhất trong công tác quản trị CMNV của GV. Việc phân tích bài giảng mục đích là phân tích cho GV thấy và khắc phục các thiếu sót, đồng thời phát huy mặt mạnh nhằm nâng 9 cao chất lượng bài giảng. Trong cuốn “Vấn đề quản trị và lãnh đạo nhà trường” V.A Xukhomlinxki đã nêu rất cụ thể cách tiến hành dự giờ và phân tích bài giảng giúp thực hiện tốt và có hiệu quả biện pháp quản trị CMNV. Ở trong nước, cùng với việc phát triển về kinh tế xã hội của nước nhà, khoa học QLGD Việt Nam dần trưởng thành, hoàn thiện và tiếp cận thế giới.
Trong quá trình đó, nhiều nhà sư phạm trong nước đã có các công trình nghiên cứu về QLGD như Hà Thế Ngữ, Phạm Minh Hạc, Nguyễn Đức Minh, Nguyễn Ngọc Quang, Nguyễn Quang Phúc. Trong những năm gần đây, xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về QLGD như: Đặng Quốc Bảo, Một số khái niệm cơ bản của quản trị giáo dục - trường Cán bộ đào tạo Trung ương I, Hà Nội, 1997; Trần Kiểm, Những vấn đề cơ bản của khoa học quản trị giáo dục - Nhà xuất bản Đại học Sư phạm, 2009; Nhóm tác giả Bùi Minh Hiển, Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo - Quản trị giáo dục, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm, 2011; Phạm Khắc Chương, Lý luận quản trị giáo dục đại cương, Đại học Sư phạm Hà Nội, 2009. Những công trình nghiên cứu của các tác giả đã giải quyết nhiều vấn đề lý luận, bản chất, quy trình, phương pháp, nghệ thuật. quản trị và QLGD nhằm nâng cao chất lượng giáo dục.
Vấn đề quản trị hoạt động CMNV của GV cũng là một vấn đề được các nhà nghiên cứu quan tâm trong nhiều năm qua. Đó là tác giả Nguyễn Ngọc Hợi, Đặng Quốc Bảo, Thái Văn Thành. Trong quá trình nghiên cứu, các tác giả đều nêu lên nguyên tắc chung của việc quản trị của hoạt động chuyên môn trong các nhà trường như sau: - Xác định đầy đủ nội dung hoạt động CMNV của GV. - Xây dựng hoàn thiện quy chế đánh giá, xếp loại CMNV của GV.
- Tổ chức đánh giá xếp loại chuyên môn nghiệp vụ của GV. - Thực hiện sắp xếp điều chuyển những GV không đáp ứng được các yêu cầu về CMNV. 10 Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của xã hội, một trong những nhiệm vụ trọng tâm của ngành Giáo dục và Đào tạo là vấn đề bồi dưỡng nghiệp vụ, năng lực quản trị cho các đội ngũ quản trị nhà trường để họ có thể “vừa hồng vừa chuyên” trong công tác quản trị, đây là một yếu tố vô cùng quan trọng trong nhà trường nói chung, nhà trường tiểu học nói riêng, nhiệm vụ chính trị trọng tâm là công tác quản trị chuyên môn - là “xương sống” trong hoạt động của mỗi đơn vị trường học. Từ năm 2007, Bộ GD&ĐT tham khảo, nghiên cứu và xây dựng chuẩn nghề nghiệp GV các cấp học, trong đó Chuẩn nghề nghiệp GVTH ban hành sớm nhất ( Năm 2007), sau đó các bộ chuẩn dành cho GV Mầm Non, THCS và TH lần lượt được xây dựng và ban hành.
Từ chuẩn nghề nghiệp các trường tiểu học có cơ sở đánh giá GV theo chuẩn và cũng từ Chuẩn nghề nghiệp đã có rất nhiều nghiên cứu về giáo dục, đề xuất những giải pháp nhằm phát triển giáo dục trong đó có nghiên cứu về phát triển đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên theo chuẩn. Một số đề tài nghiên cứu của các tác giả đã đề cập nghiên cứu như: Tác giả Trịnh Thị Hồng Hà với đề tài: “Đánh giá Hiệu trưởng trường tiểu học Việt Nam theo hướng chuẩn hóa”. Đề tài đã đề cập đến lý luận về chuẩn hóa, vị trí vai trò của Hiệu trưởng và cách thức đánh giá hiệu trưởng trường tiểu học theo hướng chuẩn hóa. Luận văn thạc sỹ của Trần Ngọc Thủy (năm 2013): “Phát triển đội ngũ giáo viên Trường Trung học cơ sở ở quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng theo chuẩn nghề nghiệp.” ,tác giả đã đi sâu nghiên cứu cơ sở lý luận, phân tích thực trạng và đề xuất biện pháp về số lượng, cơ cấu đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ GV phát triển đội ngũ GV THCS quận Lê Chân.
Tác giả Khắc Thị Chi với đề tài: “Quản trị đội ngũ giáo viên trường Tiểu học Uy Nỗ, Đông Anh, Hà Nội dựa vào chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học”. Với vai trò của Hiệu trưởng, tác giả đề xuất biện pháp phát triển đội 11 ngũ theo chuẩn nghề nghiệp trong một đơn vị trường tiểu học. Mặc dù trong những năm qua ngành Giáo dục và Đào tạo nước ta đã đạt được những thành tựu nhất định nhưng vẫn chưa theo kịp yêu cầu phát triển kinh tế xã hội và đang bộc lộ những yếu kém, chất lượng giáo dục còn thấp với yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ mới và so với các nước có nền giáo dục tiên tiến trong khu vực và trên thế giới; nội dung chương trình, phương pháp dạy học (PPDH), công tác thi, kiểm tra đánh giá chậm đổi mới, QLGD còn nhiều bất cập, một bộ phận nhà giáo và CBQL chưa đáp ứng được yêu cầu. Trước xu thế phát triển của xã hội cần đổi mới mạnh mẽ hơn nữa phương pháp giảng dạy, nâng cao chất lượng hiệu quả dạy học, đổi mới công tác QLGD, hoàn thành tốt việc đào tạo bồi dưỡng nguồn lực con người đáp ứng yêu cầu CNH - HĐH đất nước.
Từ các nguyên tắc chung, các tác giả đã nhấn mạnh vai trò của quản trị CMNV trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục. Bởi tính chất nghề nghiệp mà hoạt động chuyên môn của trường tiểu học rất phong phú. Ngoài việc quản trị CMNV của GV, học tập của học sinh, còn bao gồm cả công việc như tổ chức cho GV tự học, tự bồi dưỡng, giáo dục học sinh NGLL, sinh hoạt chuyên môn, nghiên cứu khoa học giáo dục. Hay nói cách khác, quản trị phát triển năng lực chuyên môn giáo viên ở trường tiểu học thực chất là quản trị quá trình lao động sư phạm của người thầy.
Như vậy, vấn đề quản trị chuyên môn của các trường phổ thông từ lâu đã được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm.