CHƯƠNG 1. CƠ SO LÝ LUẬN VÀ THUC TIEN VE QUAN TRI NỘI DUNG THONG TIN CO NHAY CAM GIOI TREN BAO DIEN TU’ CHUONG 2. THUC TRANG QUAN TRI NOI DUNG THONG TIN CO NHAY CAM GIOI TREN BAO DIEN TU CHUONG 3. GIAI PHAP VA KIEN NGHI QUAN TRI NOI DUNG THONG TIN CO NHAY CAM GIOI TREN BAO DIEN TU 13 CHUONG 1.
CO SO LY LUAN VA THUC TIEN VE QUAN TRI NOI DUNG THONG TIN CO NHAY CAM GIỚI TREN BAO ĐIỆN TỬ 1. Cac khái niệm cơ ban: 1.1 Quản trị và quản trị thông tin 1. Quan trị Quan trị là thuật ngữ được dùng phổ biến trong mọi lĩnh vực, hoạt động của đời sống xã hội. Trong Bộ Tư bản, Mác đã đưa ra một hình ảnh về hoạt động quản trị, đó là hoạt động của con người chỉ huy dàn nhạc, người này không chơi một thứ nhac cụ nao ma chỉ đứng chỉ huy các nhạc công, tạo nên bản giao hưởng.
Ngày nay, quản trị có nhiều cách tiếp cận theo các quan điểm khác nhau: — Quản trị là một quá trình do một hay nhiều người thực hiện nhằm phối hợp các hoạt động của những người khác để đạt kết qảu mà một người hoạt động riêng rẽ không thé nào làm được. Với cách hiểu này, hoạt động quản trị chỉ phát sinh khi con người kết hợp với nhau thành tô chức. — Quản trị là sự tác động của chủ thé quan tri dén déi tuong quan tri nhằm thực hiện các mục tiêu đã vạch ra một cách tối ưu trong điều kiện bién động của môi trường. Với cách hiểu này, quản tri là một quá trình, trong đó chủ thể quản trị là tác nhân tạo ra các tác động quản trị; đối tượng quản trị tiếp nhận các tác động của chủ thể quản tri tạo ra; mục tiêu của quản tri phải được đặt ra cho cả chủ thé quan tri va đối tượng quan tri, được xác định trước khi thực hiện sự tác động quản tri.
— Quản trỊ là quá trình hoạch định, tô chức, điều khiển và kiểm soát công việc và những nỗ lực của con người, đồng thời vận dụng một cách có hiệu quả mọi tài nguyên, dé hoàn thành các mục tiêu đã định. — Quản tri là hoạt động vừa có tính khoa học, vừa có tính nghệ thuật. — Quản tri được hiểu là trông coi, điều khiến, là đưa đối tượng vào khuôn mẫu qui định có sẵn. — Quản trị cũng có thé hiểu là cách quản lý và điều hành công việc thường ngày của cá nhân/cơ quan/tô chức/đơn vỊ.
Thông tin Trong tiếng La tinh, ban dau thông tin (information, mà trước đây là infomatio) có nghĩa là một hành động rất cụ thé tạo ra một hình dạng (forme) hoặc là sự truyền đạt một ý tưởng, một khái niệm hay một biểu tượng. Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học [45, tr953], “thông tin” gồm: - Động từ: truyền tin cho nhau để biết - Danh từ: Điều được truyền đi cho biết, tin được truyền đi. Thông tin có thé được mã hóa thành nhiều dạng khác nhau dé truyền và giải thích (ví dụ, thông tin có thé được mã hóa thành một chuỗi các dấu hiệu, hoặc được truyền qua tín hiệu). Nó cũng có thê được mã hóa đề lưu trữ và liên lạc an toàn.
Thông tin được sử dụng phô biến và thé hiện trên nhiều vật liệu khác nhau: khắc trên đá, ghi lại trên giấy, băng từ, dia từ. Con người cũng có thé tiếp cận thông tin từ nhiều con đường khác nhau, mà phổ biến nhất đó là báo, đài, truyền hình, mang xã hội, giao tiếp. Trong lĩnh vực truyền thông đại chúng, thông tin hoạt động chủ yếu dựa trên nội dung của các thông điệp, nhất là khi tiếp xúc với công chúng. Trong hoạt động báo chí, “thông tin” trở thành “cầu nối” giữa báo chí và công chúng.
Ở dạng danh từ, “thông tin” có nghĩa là tri thức, tư tưởng do nhà báo tái tạo và sáng tạo từ hiện thực cuộc sông. Tất cả những vấn đề, sự kiện, hiện tượng trong tự nhiên và xã hội được báo chí phản ánh nhăm phục vụ nhu cầu tìm hiểu, khám phá của con người. Thông tin trong báo chí tồn tại ở nhiều dang khác nhau: tin van, tin ngắn, bài. Ở dạng động từ, thông tin nghĩa là thông báo tin tức.
Báo chí thông tin tới công chúng tất cả các vấn đề của đời sống, xã hội, đáp ứng nhu cầu tìm hiểu, khám khá, nhận thức của công chúng. Trong thế giới chứa đựng vô vàn thông tin, bằng các phương pháp của mình, báo chí truyền tải những thông tin ấy tới các tầng lớp công chúng khác nhau trong xã hội. Điều đó đã khiến báo chí trở thành một phương tiện thông tin đại chúng rộng rãi mà không một phương tiện nào có thê thay thế được. Từ các phân tích trên, có thê khái quát, “Thông tin” chính là tin tức, thông báo, đưa tin một sự vật, sự việc hay hiện tượng chứa đựng trong các hình thức nhất định, được tiếp nhận, lựa chọn và sử dụng qua các phương pháp thích hợp.
Quản trị thông tin Theo mô hình truyền thông của Shannon và Lasswell, có thé nhận thấy, có một số khía cạnh làm cản trở quá trình truyền thông và tiếp nhận thông tin từ công chúng, dẫn tới thông tin từ nguồn truyền tới nguồn nhận bị sai lệnh: 15 - Lý do thứ nhất có thé đến từ ban thân thông tin đã có sự sai lệnh, đưa đến người nhận sẽ nhận thức sai về thông tin. - Lý do thứ hai, tần suất xuất hiện thông tin đậm, nhạt khác nhau chưa phù hợp với thông điệp cần truyền thông, nhiều thông tin bị bỏ sót, khiến cho công chúng không nhận thức được đầy đủ và toàn điện về bản chất của sự việc trong đời sống xã hội. - Ly do thứ ba là cách thức thể hiện thông tin chưa mạch lạc, rõ ràng, khoa học, gây nên hiểu nhằm, hiểu sai và không đúng về đối tượng phan ánh - Lý do thứ tư là cấu trúc trình bày thông tin thiếu sáng tạo, kém về ý tưởng, trình bày vụng về, thiếu nhất quán. - Ly do thứ 5 là thông tin một chiều, không có phản hồi dé kịp thời điều chỉnh phù hợp với thực tiễn và bản chất sự việc.
Đề hạn chế việc công chúng tiếp nhận thông tin sai lệch, việc quản trị thông tin là yêu cau tất yêu, khách quan. Công tác quan tri cần được thực hiện thường xuyên, liên tục, khoa học và không ngừng đôi mới, cập nhật bằng các công cụ quản trị khác nhau. Quản trị thông tin là cách một tổ chức/cơ quan báo chí sử dụng các phương thức dé lập kế hoạch, tập hợp, sáng tạo và phô biến một cách hiệu quả một hoạt động thông tin nào đó. Thông qua quan trị thông tin, tổ chức/cơ quan báo chí có thé đảm bảo giá tri của các thông tin được xác lập và sử dụng tối đa, nhằm phục vụ cho mục tiêu, tôn chỉ của tô chức/cơ quan báo chí.
Quản trị thông tin bao gồm các thành phần: chủ thé quản trị, nội dung quản trị và đối tượng quản trị. Từ mô hình lý thuyết của Shannon và Lasswell, Quản trị thông tin trên báo chí thường được thể hiện trên các khía cạnh: — Quản trị về tan suất xuất hiện thông tin: các co quan báo chí cần phải quản tri để liều lượng, mật độ thông tin về các lĩnh vực quan trọng được thé hiện phù hợp trên báo chí. — Quản trị về nội dung tác phẩm dé đảm bảo thông tin được phan ánh chính xác, khách quan, cân băng và công bằng. — Quản trị về hình thức truyền tải thông tin dé đảm bảo thông tin được thé hiện dễ hiểu, phù hop.
—_ Quản trị về qui trình sản xuất tin, bài: Việc quản tri qui trình san xuất tin, bài của cơ quan báo chí phải được đảm bảo dé thông tin dap ứng các yêu câu vê 16 tính chính xác, khách quan, trung thực, công bằng và cân bằng, đồng thời, đáp ứng yêu cau về tính nhanh nhậy, hợp thời, kịp thời của thông tin báo chí. 1I2 Bao điện tử Báo điện tử (BĐT) là một trong bốn loại hình của báo chí bao gồm: báo in, phát thanh, truyền hình và báo mạng điện tử. Và theo Điều 20, Nghị định số 72/2013/NĐ- CP ngày 15/4/2013 của Chính phủ qui định về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mang, báo điện tử là một trong 5 loại của trang tin điện tử, gồm: Báo điện tử, Trang thông tin điện tử tổng hợp, Trang thông tin điện tử nội bộ, Trang thông tin điện tử cá nhân và Trang thông tin điện tử ứng dụng chuyên ngành. Theo Từ điển Báo chí Việt Nam (2008) do Tạ Ngọc Tan chủ biên, Báo mạng điện tử, hay còn được gọi là Báo trực tuyến, Báo mạng internet (online newspaper) là một sản phẩm đặc biệt, được sinh ra từ sự kết hợp của các loại hình báo chí truyền thống, là một loại hình thông tin đại chúng đa phương tiện, sử dụng yếu tố công nghệ cao như một nhân tố quyết định, hoạt động trong môi trường internet, mang tính chất đa phương tiện, tính tương tác cao và tính siêu văn bản.
Hiện nay, thuật ngữ “Báo điện tử” được sử dụng khá thông dụng ở Việt Nam nhưng có nghĩa chung chung, chưa nêu rõ được đặc điểm của loại hình báo chí phát hành trên mạng, “Báo trực tuyến” là cách gọi thiên về yếu tổ tin học và chưa được Việt hoá, “Báo mạng” là cách gọi tắt không xác định rõ ranh giới giữa khái niệm mạng và mạng internet; thuật ngữ “Báo internet” lại dé gây nhằm lẫn đánh đồng tat cả các trang web trên internet đều là báo mạng điện tử. Khái niệm “Báo mạng điện tử” cũng được nhiều người dùng sử dụng dé nhân mạnh khía cạnh đây là một loại hình báo chí được xây dựng dưới hình thức của một trang web và phát hành trên mạng Internet. Báo điện tử là cách gọi phổ biến ở Việt Nam thời kì loại hình báo chí này mới xuất hiện, gắn liền với tên goi của nhiều tờ báo như Quê Hương điện tử, Nhân Dân điện tử, Lao động điện tử. Các văn bản pháp luật của Nhà nước đều sử dụng thuật ngữ này.
Điều 3, Khoản 6 Luật Báo chí 2016 định nghĩa “Báo điện tử là loại hình báo chí sử dụng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được truyền dẫn trên môi trường mạng, gồm báo điện tử và tạp chí điện tử”. Như vậy, hiện nay đang ton tại các cách tiếp cận khác nhau về khái niệm báo điện tử: báo điện tử, báo mạng điện tử, báo trực tuyến, báo Internet.