chương 1 là cơ sở để phân tích thực trạng quản trị các dự án ODA của Ban quản lý dự án Thoát nước Hà Nội giai đoạn 2006-2012. Chương 2 trình bày thực trạng quản trị các dự án ODA của Ban quản lý dự án Thoát nước Hà Nội giai đoạn 2006-2012. Để hiểu về thực trạng quản trị các dự án ODA của Ban quản lý dự án Thoát nước Hà Nội, trước hết tác giả trình bày tổng quan về BQLDA Thoát nước Hà Nội và tổng quan về các dự án ODA của BQLDA Thoát nước Hà Nội. BQLDA Thoát nước Hà Nội trước đây là BQLDA Công trình Giao thông Công Chính Hà Nội trực thuộc Sở Giao thông Công chính Hà Nội được thành lập từ 1995.
Năm 2008, BQLDA Công trình Giao thông Công Chính Hà Nội được đổi tên thành BQLDA Thoát nước Hà Nội và được chuyển giao từ Sở Giao thông Công chính Hà Nội sang Sở Xây Dựng Hà Nội. Cơ cấu tổ chức của BQLDA gồm 1 Giám đốc, 3 Phó giám đốc và 6 phòng ban chức năng. Kể từ khi thành lập đến nay, BQLDA Thoát nước Hà Nội quản trị 3 dự án ODA đó là dự án Thoát nước nhằm cải thiện môi trường Hà Nội-giai đoạn 1, dự án Thoát nước Hà Nội nhằm cải thiện môi trường Hà Nội-Dự án II và dự án nhà máy xử lý nước thải quy mô lớn Yên Xá. Tiếp đến, để hiểu về hoạt động quản trị dự án ODA của BQLDA Thoát nước Hà Nội chịu tác động của những nhân tố nào? Những nhân tố đó tác động theo hướng thuận lợi hay bất lợi? Tác giả đã phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động quản trị các dự án ODA của Ban quản lý dự án Thoát nước Hà Nội giai đoạn 2006-2012.
Trong các nhân tố thuộc nhóm nhân tố bên trong và nhóm nhân tố bên ngoài của BQLDA Thoát nước Hà Nội, nhân tố đặc điểm đặc thù của dự án thoát nước, tốc độ đô thị hóa nhanh và năng lực của Nhà thầu là những nhân tố tác động bất lợi đến quản trị dự án ODA. Còn lại các nhân tố khác như đội ngũ nhân viên, năng lực quản trị, cơ cấu tổ chức quản lý, suy thoát kinh tế, các yếu tố kinh tế vĩ mô như lạm phát, lãi suất, tỷ giá VND/JPY đều có cả tác động thuận lợi và tác động bất lợi đối với quản trị dự án ODA của BQLDA Thoát nước Hà Nội. Ngoài ra, tác giả iv cũng trình bày phần cơ sở pháp lý của quản trị dự án ODA để làm nổi bật những điểm khác nhau giữa quy định của Việt Nam và thông lệ quốc tế (hướng dẫn của Nhà tài trơ JICA) về đấu thấu. Trong phần này, có hai điểm khác biệt lớn được tác giả trình bày đó là quy định về ưu đãi nhà thầu trong nước và về thực hiện hợp đồng theo thông lệ quốc tế và theo quy định của Việt Nam đối với việc lập dự toán cho công tác điều chỉnh, phát sinh.
Phần nội dung quan trọng tiếp theo của Chương 2 đó là phần phân tích thực trạng quản trị dự án ODA của BQLDA Thoát nước Hà Nội giai đoạn 2006-2012. Tác giả phân tích những nội dung quản trị mà BQLDA Thoát nước Hà Nội đã thực hiện đó là lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, phối hợp và kiểm soát thực hiện dự án. Đối với mỗi nội dung đó, tác giả đã phân tích dựa trên một ví dụ cụ thể. Sau đó, luận văn cũng trình bày các công cụ quản trị dự án mà BQLDA Thoát nước Hà Nội đã sử dụng để quản trị các dự án ODA đồng thời phân tích các kết quả thực hiện các chỉ tiêu đánh giá việc quản trị dự án ODA của BQLDA Thoát nước Hà Nội giai đoạn 2006-2012.
Trong các chỉ tiêu đánh giá, hầu hết các chỉ tiêu đều đạt ở mức khá là chỉ tiêu độ thỏa mãn của người thụ hưởng, chỉ tiêu an toàn và vệ sinh môi trường, chỉ tiêu tốt là chỉ tiêu chất lượng và chỉ tiêu chưa tốt là chỉ tiêu tiến độ, chỉ tiêu chi phí trong đó chỉ tiêu tiến độ là chỉ tiêu kém nhất và số lần trục trặc rất lớn cho thấy công tác quản trị của Ban quản lý dự án Thoát nước Hà Nội gặp nhiều khó khăn cũng như có một số yếu kém trong công tác quản trị dự án.Từ việc phân tích thực trạng quản trị các dự án ODA của BQLDA Thoát nước Hà Nội, tác giả chỉ các ưu điểm, tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của các tồn tại, hạn chế đó. Những ưu điểm của hoạt động quản trị các dự án ODA của Ban Quản lý dự án Thoát nước Hà Nội giai đoạn 2006-2012 đó là: Thứ nhất, nhìn chung, BQLDA Thoát nước Hà Nội đã thực hiện đầy đủ các công việc của quản trị dự án. Thứ hai, về cơ bản, chất lượng thực hiện các công việc của Ban quản lý dự án Thoát nước Hà Nội giai đoạn 2006-2012 là tương đối tốt. Thứ ba, BQLDA Thoát nước Hà Nội thường xuyên áp dụng đa dạng các công cụ quản trị dự án trong quá trình thực hiện dự án thoát nước.
Thứ tư, một số công cụ quản trị dự án được áp dụng khá phù hợp. v Công cụ quản trị vĩ mô, công cụ hành chính là những công cụ quản trị dự án đã được áp dụng khá tốt, linh hoạt góp phần đáng kể vào kết quả đạt được chỉ tiêu chất lượng. Thứ năm, trong số các chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá dự án ODA của Ban quản lý dự án Thoát nước Hà Nội, chỉ tiêu chất lượng là đạt mức cao nhất. Thứ sáu, tất cả các chức năng quản trị đã được thực hiện đầy đủ và trong số những chức năng đó, tổ chức thực hiện dự án là chức năng mà Ban quản lý dự án Thoát nước Hà Nội được thực hiện tốt nhất.
Bên cạnh những ưu điểm trên, Ban Quản lý dự án Thoát nước Hà Nội giai đoạn 2006 -2012 có 4 tồn tại, hạn chế của hoạt động quản trị các dự án ODA, đó là thứ nhất, một số công cụ như sau: quản trị dự án được BQLDA Thoát nước Hà Nội áp dụng nhưng chưa hiệu quả: công cụ kinh tế. Thứ hai, trong số các chỉ tiêu được đánh giá, chỉ tiêu đánh giá dự án ODA mà Ban quản lý dự án Thoát nước Hà Nội đạt mức thấp nhất là chỉ tiêu tiến độ. Thứ ba, trong tất cả những chức năng được thực hiện, chức năng mà BQLDA Thoát nước Hà Nội thực hiện chưa tốt là chức năng lập kế hoạch và kiểm soát thực hiện dự án. Thứ tư, tuy BQLDA Thoát nước Hà Nội đã chủ động phối hợp với các bên tham gia dự án cũng như có sự phối hợp khá chặt chẽ giữa các phòng ban, việc phối hợp thực hiện các bước, các giai đoạn trong dự án về cơ bản chưa tốt.
Những tồn tại, hạn chế đó là do nhiều nguyên nhân, có cả nguyên nhân bên trong và nguyên nhân bên ngoài của BQLDA Thoát nước Hà Nội. Các nguyên nhân bên trong của BQLDA Thoát nước Hà Nội đó là: Thứ nhất, cơ cấu tổ chức quản lý của BQLDA còn chưa phù hợp với những điều kiện khách quan đang thay đổi nhanh chóng. Thứ hai, số lượng nhân viên còn thiếu và chưa thu hút được nguồn nhân lực có kinh nghiệm và trình độ cao về quản trị dự án, đặc biệt là cần cán bộ nhiều kinh nghiệm trong công tác GPMB. Thứ ba, do các đặc điểm đặc thù của dự án thoát nước.
Các nguyên nhân bên ngoài của BQLDA Thoát nước Hà Nội đó là Thứ nhất, hệ thống pháp lý còn mâu thuẫn và bất cập đặc biệt là cơ chế, chính sách về GPMB. Thứ hai, thủ tục hành chính vẫn còn phức tạp và kéo dài. Thứ ba, phối hợp của các bên tham gia dự án còn chậm và thụ động. vi Việc phân tích, đánh giá thực trạng đã nêu là cơ sở khoa học để tác giả đưa ra các giải pháp và kiến nghị ở Chương 3.
Trong nội dung chương 3, tác giả trình bày các nội dung chính như xu hướng và triển vọng thu hút vốn ODA đến năm 2020, các yếu tố ảnh hưởng tới công tác quản trị dự án ODA của Ban quản lý dự án Thoát nước Hà Nội, một số giải pháp, kiến nghị tăng cường quản trị các dự án ODA của Ban quản lý dự án Thoát nước Hà Nội đến năm 2020. Căn cứ trên những tồn tại và nguyên nhân của các tồn tại được phân tích và đánh giá trong Chương 2, tác giả đưa ra một số giải pháp khắc phục các tồn tại, hạn chế. Các giải pháp này được chia thành nhóm giải pháp ngắn hạn và nhóm giải pháp trung và dài hạn. Để khắc phục những tồn tại, hạn chế trong ngắn hạn, tác giả đề xuất một số giải pháp sau: Một là, ứng dụng công nghệ trong công tác quản trị dự án trong đó cần ứng dụng công nghệ thông tin trong quản trị thông tin và ứng dụng các công nghệ, kỹ thuật thi công mới; Hai là, cải thiện tiến độ thực hiện; Ba là đổi mới hoạt động lập kế hoạch; Bốn là đổi mới hoạt động kiểm soát.
Để khắc phục các tồn tại trong trung hạn và dài hạn, tác giả đề xuất các giải pháp sau: Thứ nhất, tổ chức lại cơ cấu tổ chức của BQLDA Thoát nước Hà Nội; Thứ hai, thu hút và sử dụng nhân tài thông qua các giải pháp cụ thể là đổi mới phương pháp tuyển dụng, nâng cao trình độ và kinh nghiệm của nguồn nhân lực; Thứ ba, tăng cường quản trị các công việc, công trình chịu tác động lớn do những đặc điểm đặc thù của dự án thoát nước. Bên cạnh những giải pháp đã trình bày, luận văn đề xuất một số kiến nghị đối với các cơ quan có thẩm quyền như Chính phủ, UBND thành phố Hà Nội, Sở xây dựng Hà Nội và UBND các quận/huyện, phường/xã. Trong phần này, tác giả đề xuất kiến nghị đối với Chính Phủ về việc hoàn thiện cơ chế, chính sách thu hồi đất, đền bù và GPMB, quy định về đấu thầu cũng như cải cách các thủ tục hành chính. Đối với UBND Thành phố Hà Nội, tác giả kiến nghị cần kịp thời ban hành các công bố giá vật liệu, định mức xây dựng đặc biệt là đối với những công việc sử dụng công nghệ tiên tiến để làm cơ sở cho việc lập dự toán.