mở đầu cho một cuộc chiến mới kéo dài gần nữa thế kỷ, đó là chiến tranh lạnh giữa phe Xã hội chủ nghĩa và Tư bản chủ nghĩa, mà đứng đầu là Liên Xô và Hoa Kỳ. Hai cường quốc này thực thi nhiều biện pháp , đặc biệt là về kinh tế để cũng cố hệ thống đồng minh của mình. Đối với Hoa Kỳ , nền kinh tế giàu lên nhờ chiến tranh trong khi đó các nước đồng minh của Hoa Kỳ lại chịu tác động nặng nề của cuộc chiến tranh. Sự yếu kém về kinh tế của các nước này khiến Hoa Kỳ lo ngại trước sự mở rộng nhanh chóng của phe Xã hội chủ nghĩa.
Để ngăn chặn sự phát triển đó, giải pháp quan trọng lúc bấy giờ là giúp các nước tư bản sớm hồi phục kinh tế. Năm 1947, Hoa Kỳ triển khai kế hoạch Marshall, thông qua Ngân hàng Tái thiết và Phát triển quốc tế (IBRD) để viện trợ cho các nước Tây Âu. Từ năm 1947 đến 1951, Hoa Kỳ viện trợ cho các nước Tây Âu tổng cộng 12 tỷ USD (tương đương 2,2% GNP của thế giới và 5,6% GNP của Hoa Kỳ lúc bấy giờ). Và Liên Xô cũng sử dụng biện pháp trợ giúp kinh tế để cũng cố và gia tăng số lượng các nước gia nhập phe Xã hội chủ nghĩa.
Với tinh thần quốc tế vô sản, Liên Xô đã tài trợ cho nhiều quốc gia trên thế giới, từ các nước ở châu Âu, châu Á, đến các nước châu Phi và châu Mỹ La-tinh. Năm 1991, khi Liên Xô tan rã, tổng số tiền các nước thuộc phe Xã hội chủ nghĩa còn nợ Liên Xô lên đến con số khổng lồ, quy đổi thành khoảng 120 tỷ USD. 5 Viện trợ của Hoa Kỳ cho các nước Tây Âu và của Liên Xô cho các nước xã hội chủ nghĩa được xem như là các khoản ODA đầu tiên. Mặc dù, mục tiêu chính của các khoản viện trợ này là chính trị nhưng chúng cũng đã có tác dụng quan trọng giúp các nước tiếp nhận phát triển kinh tế, xã hội.
Trong những năm 1960, trước sự đấu tranh mạnh mẽ của các nước đang phát triển, cộng với nhận thức thay đổi của các nước giàu đối với sự phát triển của các nước đang phát triển, Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) thành lập Uỷ ban Hỗ trợ phát triển (DAC). Uỷ ban này có nhiệm vụ yêu cầu, khuyến khích và điều phối viện trợ của các nước OECD cho các nước đang và kém phát triển. Trong bản báo cáo đầu tiên của mình, DAC đã sử dụng thuật ngữ “Offical Development Assistance”, với nghĩa là sự trợ giúp tài chính có ưu đãi của các của các nước giàu, các tổ chức quốc tế cho các nước nghèo. Phân loại vốn ODA 1.
Theo tính chất: ODA không hoàn lại : Đây là nguồn ODA mà nhà tài trợ cấp cho các nước nghèo mà không cần hoàn lại. Đối với các nước đang phát triển , nguồn vốn này thường cấp dưới dạng các dự án hỗ trợ kỹ thuật, các chương trình xã hội. ODA không hoàn lại thường là các khoản tiền nhưng cũng có khi là hàng hóa. ODA vốn vay ưu đãi: Đây là khoản tài chính mà chính phủ nước nhận phải trả nước cho vay, chỉ có điều đây là khoản vay ưu đãi.
Tính ưu đãi thể hiện qua mức lãi suất cho vay thấp thường dưới 3%/năm, thời gian kéo dài. Loại ODA này thường được đầu tư vào xây dựng cơ sở hạ tầng như xây dựng đường xá, cầu cảng… Muốn được nhà đầu tư đồng ý cung cấp, nước sở tại phải đệ trình các văn bản dự án lên các cơ quan có thẩm quyền của chính phủ nước tài trợ. Sau khi xem xét tính khả thi và tính hiệu quả của dự án, cơ quan này sẽ đệ trình lên chính phủ để phê duyệt. Loại ODA này chiếm phần lớn khối lượng ODA trên thế giới hiện nay.
Hình thức hỗn hợp: ODA theo hình thức này bao gồm một phần là ODA không hoàn lại và một phần là ODA vốn vay ưu đãi. Đây là loại ODA được áp dụng phổ biến 6 trong thời gian hiện nay. Loại ODA này được áp dụng nhằm mục đích nâng cấp hiệu quả sử dụng nguồn vốn này.2 Phân loại theo điều kiện: ODA không ràng buộc: Là việc sử dụng nguồn tài trợ không bị ràng buộc bởi người sử dụng hay mục đích sử dụng. ODA có ràng buộc: + Ràng buộc bởi người sử dụng: Có nghĩa là nguồn ODA được cung cấp chỉ bởi giới hạn cho một số công ty do nước tài trợ sở hữu hoặc kiểm soát ( đối với viện trợ song phương), hoặc công ty của các nước thành viên (đối với viện trợ đa phương).
+ Ràng buộc bởi mục đích sử dụng: Nghĩa là nước nhận viện trợ chỉ được cung cấp nguồn ODA với điều kiện là phải sử dụng nguồn vốn này cho những lĩnh vực nhất định hay những dự án cụ thể. ODA ràng buộc một phần: Nước nhận viện trợ phải dành một phần ODA chi ở nước viện trợ (như mua sắm hàng hóa hay sử dụng các dịch vụ của nước cung cấp ODA), phần còn lại có thể chi ở bất cứ đâu.3 Phân loại theo hình thức: Hỗ trợ dự án: Đây là hình thức chủ yếu của ODA để thực hiện các dự án cụ thể. Nó có thể là hỗ trợ cơ bản hoặc hỗ trợ kỹ thuật , có thể là cho không hoặc cho vay ưu đãi. Hỗ trợ phí dự án: Là loại ODA được nhà tài trợ cung cấp trên cơ sở tự nguyện.
Loại ODA này thường được cung cấp kèm theo những đòi hỏi từ phía chính phủ nước tài trợ. Do đó , chính phủ nước này phải cân nhắc kỹ các đòi hỏi từ phía nhà tài trợ xem có thỏa thuận đáng hay không. Nếu không thỏa đáng thì phải tiến hành đàm phán nhằm dung hòa điều kiện hai bên. Loại ODA này gồm các hình thức sau: + Hỗ trợ cán cân thanh toán: Trong đó thường là hỗ trợ tài chính trực tiếp hoặc hỗ trợ hàng hóa hay hỗ trợ xuất nhập khẩu.
Ngoại tệ hoặc hàng hóa được chuyển vào qua hình thức này có thể được sử dụng hỗ trợ cho ngân sách. 7 +Hỗ trợ trả nợ: Nguồn ODA cung cấp dùng để thanh toán những món nợ mà nước nhận viện trợ đang phải gánh chịu. + Viện trợ chương trình : Là khoản ODA dành cho một mục đích tổng quát với thời gian nhất định mà không phải xác định chính xác nó sẽ được sử dụng như thế nào. Mục tiêu cung cấp vốn ODA của nhà tài trợ: 1.
Mục tiêu kinh tế: Các nước tài trợ dùng vốn ODA để làm các mối quan hệ ngoại giao kinh tế với nước tiếp nhận. Các nước tài trợ sử dụng ODA để xuất khẩu tư bản. Từ việc tạo ra món nợ lớn dần để các nước tiếp nhận vốn ODA phải sử dụng chuyên gia của họ, mua vật tư, thiết bị máy móc của họ với giá cao hơn giá thị trường. Vốn ODA di chuyển từ các nước phát triển đến các nước kém phát triển kèm theo nó là dòng vốn của tư nhân (FDI).
Khi các nước kém phát triển đã tiếp nhận vốn ODA thì có thể chấp nhận dễ dàng hơn các điều kiện cho phép các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư trực tiếp hoặc gián tiếp ; khi đó hệ thống cơ chế chính sách đảm bảo quyền lợi, nghĩa vụ các nhà đầu tư hình thành, trong đó có cả việc tạo điều kiện cho các nhà đầu tư của nước cấp vốn ODA tham gia vào lĩnh vực có khả năng sinh lời cao. Vốn ODA là phương tiện giúp nước cung cấp thâm nhập vào thị trường các nước đang phát triển dễ dàng. Mặt khác, vốn ODA được cấp không phải hoàn toàn bằng tiền mà bao gồm cả hàng hóa, thiết bị, máy móc do nước cung cấp sản xuất được quy đổi thành tiền. Vốn ODA còn tạo ra sự ổn định về nguồn cung cấp nguyên, nhiên liệu cho các nước cung cấp vốn ODA.
Thực tế các nước cung cấp vốn ODA phụ thuộc các nước đang phát triển về nguồn nguyên liệu hóa thạch (dầu thô, than đá) , các nguyên liệu , khoảng sản và vốn ODA trở thành phương tiện để các nước này giải quyết sự thiếu hụt đó. Khi viện trợ vốn ODA cho các nước đang phát triển, tạo mối quan hệ kinh tế song phương, nước viện trợ được tạo thuận lợi trong việc mua các nguyên liệu, nhiên liệu mà họ đang thiếu từ các nước nhận viện trợ phục vụ cho nền kinh tế của mình. Mục tiêu nhân đạo : Các nhà cung cấp vốn ODA cho các chương trình, dự án xóa đói giảm nghèo, y tế, giáo dục, bảo vệ môi trường mang đậm nét tính nhân đạo. Như các chương trình viện trợ của Thụy Điển được đánh giá mang ý tưởng nhân đạo tiến bộ đã góp phần không nhỏ vào các chương trình phát triển kinh tế- xã hội của các nước thứ ba.
Viện trợ của Thụy Điển giúp các nước nhận viện trợ lựa chọn các ưu tiên cần thiết trong việc thiết lập các thể chế tại chỗ và phát huy năng lực tại chỗ để hướng tới bốn mục tiêu là tăng trưởng các nguồn lực , công bằng về kinh tế-xã hội, độc lập về kinh tế và chính trị, phát triển dân chủ. Các nước khi cung cấp ODA đưa ra nhiều mục đích khác nhau; tuy nhiên một khía cạnh nào đó thì vốn ODA thể hiện trách nhiệm của các nước phát triển đối với các nước kém phát triển. Mục tiêu chính trị: Vốn ODA ngoài việc giúp đỡ để xóa đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường, đáp ứng các nhu cầu cơ bản của nước đang phát triển mà vốn ODA còn được sử dụng cho mục đích chính trị của các nước phát triển.Ví dụ như Mỹ viện trợ cho nước ngoài được coi là “những công cụ quan trọng thúc đẩy các mục tiêu trong chính sách đối ngoại của Mỹ” và “ viện trợ là một bộ phận quan trọng của vai trò lãnh đạo của Mỹ”. Điều này lý giải tại sao cơ quan viện trợ phát triển quốc tế của Mỹ (USAID) giảm sự tập trung về vấn đề tăng trưởng kinh tế mà quan tâm vào việc xúc tiến cải tổ cơ cấu nước nhận viện trợ.
Đặc điểm của ODA ODA được các tổ chức chính thức hoặc đại diện của các tổ chức chính thức cung cấp. Tổ chức chính thức bao gồm các nhà nước mà đại diện là Chính phủ, các tổ chức liên chính phủ hoặc liên quốc gia, và các tổ chức phi chính phủ hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận. Vốn ODA có thời gian cho vay ( thời gian hoàn trả vốn), thời gian 9 ân hạn dài.