Chương 1: Giới thiệu đề tài. Trong chương này, tác giả trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu và các câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu cũng như kết cấu của đề tài. Chương 2: Tổng quan các nghiên cứu trước đây. Trong chương này, tác giả hệ thống hóa các nghiên cứu trước đây trên thế giới về quản trị dòng tiền và thành quả tài chính của công ty.
Trên cơ sở những bằng chứng thực nghiệm này tác giả xây TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 dựng mô hình và thực hiện kiểm định với dữ liệu thu thập từ các công ty niêm yết Việt Nam về quản trị dòng tiền và thành quả tài chính của công ty. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Trong chương này, tác giả trình bày nguồn dữ liệu, cách thức thu thập, xử lý số liệu, mô hình, mô tả các biến sử dụng trong nghiên cứu cũng như phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
Trong chương này, tác giả trình bày kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho 221 công ty Việt Nam với 1.547 quan sát trong giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2015 về ảnh hưởng của quản trị dòng tiền đến thành quả tài chính công ty Việt Nam và so sánh kết quả thu được với các kết quả thực nghiệm trước đó. Chương 5: Kết luận. Ở chương này, tác giả tổng kết lại vấn đề nghiên cứu; hạn chế của luận văn và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 CHƢƠNG 2.
KHUNG LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC ĐÂY 2.1 KHUNG LÝ THUYẾT VỀ CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ TÍNH HIỆU QUẢ CỦA CHIẾN LƢỢC QUẢN TRỊ DÒNG TIỀN Quản trị dòng tiền đã trở thành một trong những chiến lược thiết yếu trong nhiều chiến lược quản trị hoạt động của công ty (Fisher, 1998; Quinn, 2011). Dòng tiền được quản trị hiệu quả sẽ giúp công ty chủ động trước tình hình thiếu hụt tiền mặt, giảm sự phụ thuộc vào nguồn tài trợ bên ngoài cũng như chủ động sử dụng nguồn tiền mặt dư thừa một cách hiệu quả, từ đó cải thiện được tính thanh khoản cũng như vị thế cạnh tranh của công ty trên thị trường (Brewer và Speh, 2000; Farris và Hutchison, 2002). Chiến lược quản trị dòng tiền của công ty thông qua việc quản trị khoản phải thu, quản trị hàng tồn kho và quản trị khoản phải trả đã được các công ty kết hợp và sử dụng rộng rãi trong việc cải thiện thành quả tài chính của các công ty (Richards và Laughlin, 1980; Stewart, 1995). Quản trị dòng tiền là quản trị dòng tiền vào và dòng tiền ra của các công ty từ hoạt động kinh doanh, đầu tư và tài trợ nhằm giúp dự báo thành quả tài chính của công ty trong tương lai.
Quản trị dòng tiền của công ty là xem xét kỳ luân chuyển của tiền thông qua kỳ luân chuyển của hàng tồn kho, kỳ thu tiền các khoản phải thu, kỳ phải trả người bán. Để đánh giá hiệu quả chiến lược quản trị dòng tiền có thể sử dụng nhiều chỉ tiêu, trong đó chỉ tiêu tổng hợp là vòng quay chuyển đổi tiền mặt được đề xuất bởi Richards và Laughlin (1980) và các chỉ tiêu riêng lẻ như kỳ thu tiền khoản phải thu, kỳ lưu kho hàng tồn kho, kỳ phải trả người bán.1 Kỳ thu tiền khoản phải thu (DSO - Days Sales Outstanding) và thành quả tài chính của công ty Kỳ thu tiền khoản phải thu (DSO) là khoảng thời gian được tính từ khi công ty bán hàng cho khách hàng đến khi công ty nhận được doanh thu bằng tiền. Kỳ thu tiền khoản phải thu được tính bằng cách lấy khoản phải thu cuối kỳ chia cho doanh thu, TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 nhân với số ngày trong kỳ. Theo đó, kỳ thu tiền khoản phải thu càng ngắn hay thời gian công ty nhận được thanh toán từ khách hàng cho việc phân phối hàng hóa và dịch vụ phải trả càng nhanh thì càng cải thiện được tính thanh khoản cho công ty (Gallinger, 1997).
Tiền mặt nhận được từ khách hàng có thể được công ty sử dụng để đầu tư vào các hoạt động khác. Do đó, các khoản thanh toán mà công ty nhận được từ khách hàng càng nhanh thì cơ hội để công ty thực hiện được các hoạt động đầu tư càng nhiều ( auer, 2007). Tuy nhiên, khi công ty càng nới lỏng chính sách tín dụng thông qua việc mở rộng thời gian thu tiền từ khách hàng, rủi ro tín dụng mà công ty phải gánh chịu, các khoản phải thu không thu hồi được có nguy cơ chuyển thành nợ khó đòi, nợ xấu càng gia tăng (Tsai, 2011). Từ đây, lý thuyết quản trị dòng tiền cho rằng, kỳ thu tiền khoản phải thu càng ngắn, thành quả tài chính của công ty càng được cải thiện (Stewart, 1995; Churchill và Mullins, 2001; Farris và Hutchison, 2002, 2003).
Mặc dù vậy, việc rút ngắn kỳ thu tiền khoản phải thu cũng được nhìn nhận là sẽ không đem đến thuận lợi cho khách hàng, do đó các công ty thường sử dụng những biện pháp nỗ lực rút ngắn kỳ thu tiền khoản phải thu mà không làm tổn hại đến mối quan hệ giữa công ty và khách hàng, chẳng hạn như khách hàng có thể nhận được khoản chiết khấu giảm giá nếu khách hàng thanh toán sớm (Moran, 2011). Wort và Zumwalt (1985) cho rằng, chính sách khuyến khích khách hàng thanh toán sớm thông qua việc cho khách hàng nhận một khoản chiết khấu giảm giá mặc dù làm cho doanh thu của công ty thu được ít hơn, nhưng từ việc nhận được tiền nhanh hơn sẽ cải thiện được khả năng thanh toán và làm giảm đi rủi ro tín dụng cho công ty.2 Kỳ lưu kho hàng tồn kho (DIO - Days Inventory Outstanding) và thành quả tài chính của công ty Kỳ lưu kho hàng tồn kho (DIO) là khoảng thời gian được tính từ lúc nguyên vật liệu được mua vào cho đến khi được chuyển hóa thành thành phẩm và bán ra cho khách hàng. Kỳ lưu kho hàng tồn kho được tính bằng cách lấy lượng hàng tồn kho cuối kỳ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 chia cho giá vốn hàng bán, nhân với số ngày trong kỳ. Hàng tồn kho là những tài sản mà công ty dự trữ để kịp thời cung cấp hàng hóa cho khách hàng, theo đó khi xảy ra tình trạng sụt giảm trong hàng tồn kho có thể dẫn tới việc công ty không có khả năng đáp ứng đầy đủ và kịp thời nhu cầu của khách hàng.
Tuy nhiên, việc nắm giữ nhiều hàng tồn kho lại làm cho công ty phải gánh chịu chi phí tồn trữ. Vì thế, việc cắt giảm hàng tồn kho sẽ giúp công ty giảm chi phí nắm giữ và giải phóng được một lượng tiền mặt, để từ đó công ty có thể sử dụng để tái đầu tư nhằm gia tăng doanh số. Việc giảm đầu tư vào hàng tồn kho vừa có ưu thế, vừa có bất lợi, nhưng nhiều bằng chứng cho thấy khi công ty nắm giữ hàng tồn kho ít hơn thường làm cải thiện tính thanh khoản và thành quả tài chính cho công ty (Chen, 2005; Swamidass, 2007; Koumanakos, 2008; Capkun. Hơn nữa, lượng hàng tồn kho quá dư thừa thường liên quan tới hoạt động bán hàng yếu kém (Singhal, 2005).
Mặc dù việc giảm lượng hàng tồn kho có thể đặt công ty vào rủi ro do bị thiếu hàng, nhưng trong thực tế các công ty có thể thường xuyên giảm hàng tồn kho mà không phải đánh đổi giữa lợi ích và chi phí thông qua các phương pháp như chương trình quản trị hàng tồn kho Lean Just-In-Time, hệ thống bổ sung tự động, chương trình hàng tồn kho do nhà cung cấp quản lý (Vendor Managed Inventory – VMI) và chương trình gửi hàng tồn kho để bán (Harrington, 1996; Achabal. Chương trình sử dụng một hệ thống thông tin cập nhật tự động để bổ sung hàng tồn kho khi lượng hàng trong kho giảm xuống dưới một mức hạn định nào đó. Cách thức quản trị hàng tồn kho này chứng minh là đã làm giảm được mức độ hàng tồn kho một cách hiệu quả mà không gây thiệt hại tới thành quả tài chính của các công ty (Milgrom và Roberts, 1988).3 Kỳ phải trả người bán (DPO - Days Payable Outstanding) và thành quả tài chính của công ty Kỳ phải trả người bán (DPO) là khoảng thời gian kể từ khi công ty mua nguyên vật liệu cho đến khi công ty thanh toán tiền cho nhà cung cấp. Kỳ phải trả người bán được tính bằng cách lấy khoản phải trả cuối kỳ chia cho giá trị hàng mua rồi nhân TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 với số ngày trong kỳ.
Cũng giống như kỳ lưu kho hàng tồn kho, mối quan hệ giữa kỳ phải trả người bán và thành quả tài chính của công ty rất phức tạp. Việc mở rộng vòng quay các khoản phải trả một cách hiệu quả sẽ cho phép công ty nắm giữ tiền mặt lâu hơn, kết quả là cải thiện tính thanh khoản cho công ty (Stewart, 1995). Tuy nhiên, khi công ty mở rộng vòng quay các khoản phải trả của mình, công ty sẽ không nhận được các khoản chiết khấu từ nhà cung cấp do thanh toán sớm và có thể làm tổn hại tới mối quan hệ giữa công ty với các nhà cung cấp (Fawcett, 2010). Hơn nữa, khi một nhà cung cấp bị suy yếu tiền mặt do vòng quay các khoản phải trả quá dài, làm cho chuỗi cung ứng tổng thể có thể phải chịu tác động tiêu cực trong dài hạn (Raghavan và Mishra, 2011).
Vòng quay các khoản phải trả dài hơn cũng có thể làm cho các nhà cung cấp cho công ty cung cấp hàng hóa với chất lượng thấp hơn (Timme và Wanberg, 2011). Hơn nữa, khi công ty trả nợ đúng hạn sẽ ngăn ngừa được việc kiện tụng, tranh chấp từ phía chủ nợ và từ đó nâng cao được vị thế của công ty.4 Vòng quay chuyển đổi tiền mặt (CCC - Cash Conversion Cycle), vòng quay tiền mặt hoạt động (OCC - Operating Cash Cycle) và thành quả tài chính của công ty Vòng quay chuyển đổi tiền mặt – CCC được sử dụng rất thường xuyên nhằm đánh giá tình hình quản trị dòng tiền cho công ty. Vòng quay chuyển đổi tiền mặt (CCC - cũng được gọi là the Cash-to-Cash Cycle) được kết hợp từ ba chỉ tiêu dòng tiền để cung cấp một chỉ số tổng thể cho vị thế tiền mặt của công ty. Vòng quay chuyển đổi tiền mặt là khoảng thời gian từ lúc mua nguyên vật liệu, chuyển đổi thành thành phẩm, bán sản phẩm và thu tiền khoản phải thu.
Vòng quay chuyển đổi tiền mặt được tính toán bằng cách tính tổng kỳ thu tiền khoản phải thu (DSO) và kỳ lưu kho hàng tồn kho (DIO), trừ đi kỳ phải trả người bán (DPO).