Chương 1 - Giới thiệu đề tài: Chương này tác giả trình bày rõ động cơ nghiên cứu, mục tiêu, các câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài. Chương 2 - Khung lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước đây: Chương này trình bày khung lý thuyết về quản trị dòng tiền, tổng quan các nghiên cứu đây về mối quan hệ giữa quản trị dòng tiền và thành quả tài chính ở nhiều quốc gia trên thế giới với các loại hình doanh nghiệp khác nhau, thời kỳ nghiên cứu khác nhau. Chương 3 - Phương pháp nghiên cứu: Trong chương này, tác giả trình bày dữ liệu, phương pháp nghiên cứu, xây dựng mô hình hồi quy và các biến được sử dụng trong mô hình, đồng thời đưa ra các giả thuyết nghiên cứu. Chương 4 - Kết quả thực nghiệm cho các công ty niêm yết Việt Nam: Chương này sẽ xem xét các kết quả của quá trình nghiên cứu: bao gồm thống kê mô tả biến, phân tích các hệ số hồi quy thu được, phân tích nhân quả Granger cũng như đo lường tác động biên.
Chương 5 - Kết luận: Chương cuối cùng đưa ra kết luận cùng ngụ ý nghiên cứu, gợi mở một số khuyến nghị cho các nhà quản lý; trình bày hạn chế của đề tài và đề xuất những hướng nghiên cứu tiếp theo. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 CHƯƠNG 2. KHUNG LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2. Khung lý thuyết về quản trị dòng tiền 2.
Quản trị dòng tiền – Sự cần thiết phải quản trị dòng tiền hiệu quả Quản trị dòng tiền là một trong những chiến lược then chốt trong hoạt động quản trị công ty. Quản trị dòng tiền hiệu quả sẽ giúp công ty chủ động trước tình hình thiếu hụt tiền mặt, giảm sự phụ thuộc của công ty vào hệ thống ngân hàng, tiết kiệm chi phí tài chính. Bên cạnh đó, quản trị dòng tiền hiệu quả còn giúp cho công ty chủ động hơn trong việc sử dụng nguồn tiền mặt dư thừa một cách linh hoạt, từ đó cải thiện tính thanh khoản và cải thiện vị thế cạnh tranh cho công ty trên thị trường (Brewer và Speh, 2000; Farris và Hutchison, 2002, 2003). Có thể nói, quản trị dòng tiền hiệu quả không chỉ ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi mà còn ảnh hưởng đến vấn đề sống còn của công ty.
Các thước đo đánh giá tính hiệu quả trong hoạt động quản trị dòng tiền của doanh nghiệp Khi đánh giá hiệu quả của chiến lược quản trị dòng tiền, có thể sử dụng các đơn vị đo lường riêng lẻ như kỳ thu tiền khoản phải thu, kỳ lưu kho hàng tồn kho, kỳ thanh toán các khoản phải trả hay thước đo tổng hợp là vòng quay chuyển đổi tiền mặt, được đề xuất bởi Richard và Laughlin (1980).1: Chu kỳ luân chuyển tiền của doanh nghiệp Lương và các khoản Nguyên liệu trực tiếp chi phí bằng tiền khác Bán thành phẩm Nợ phải trả Nợ phải thu nhà cung cấp khách hàng Tiền mặt. (Nguồn: sách Tài chính doanh nghiệp hiện đại.) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Kỳ thu tiền khoản phải thu Kỳ thu tiền khoản phải thu là khoản thời gian trung bình từ khi doanh nghiệp bán hàng cho khách hàng cho đến khi doanh nghiệp nhận được doanh thu bằng tiền. Thước đo này được tính bằng cách lấy khoản phải thu cuối kỳ chia cho doanh thu bình quân một ngày trong kỳ.
Theo đó, kỳ thu tiền khoản phải thu càng ngắn, hay thời gian doanh nghiệp nhận thanh toán từ khách hàng cho việc phân phối hàng hóa và dịch vụ càng nhanh thì càng cải thiện được tính thanh khoản cho doanh nghiệp (Gallinger, 1997). Tiền mặt thu từ khách hàng có thể được sử dụng để đầu tư vào các hoạt động khác. Do đó, các khoản thanh toán mà doanh nghiệp nhận được từ khách hàng càng nhanh thì cơ hội để doanh nghiệp theo đuổi các hoạt động đầu tư càng nhiều (Bauer, 2007). Bên cạnh đó, khi doanh nghiệp nới lỏng thời gian thu tiền thông qua việc sử dụng tín dụng thương mại thì rủi ro mà doanh nghiệp phải gánh chịu các khoản phải thu tồn đọng, không thu hồi được sẽ có sự gia tăng đáng kể (Tsai, 2011).
Dựa trên các yếu tố này, lý thuyết về quản trị dòng tiền cho rằng kỳ thu tiền khoản phải thu ngắn hơn sẽ cải thiện thành quả tài chính của doanh nghiệp (Stewart, 1995; Churchill và Mullins, 2001; Farris và Hutchison, 2002, 2003). Tuy nhiên, việc rút ngắn thời gian thu tiền của khách hàng được nhìn nhận là không thuận lợi cho khách hàng, do đó các doanh nghiệp thường sử dụng những biện pháp nỗ lực rút ngắn vòng quay khoản phải thu mà không làm tổn hại đến mối quan hệ với khách hàng, như là khách hàng có thể được nhận khoản chiết khấu giảm giá nếu khách hàng thanh toán sớm (Moran, 2011). Nhiều nghiên cứu trước đây ủng hộ quan điểm này, Wort và Zumwalt (1985) nhận thấy chương trình khuyến khích thanh toán, tức một công ty sẵn lòng chấp nhận doanh thu ít hơn trong thương mại để nhận được tiền nhanh hơn, sẽ cải thiện khả năng thanh toán và giảm rủi ro cho doanh nghiệp. Kỳ tồn kho bình quân Hàng tồn kho là những tài sản mà các doanh nghiệp dự trữ để kịp thời cung cấp cho khách hàng, theo đó khi hàng tồn kho sụt giảm có thể dẫn tới việc doanh nghiệp không có khả năng đáp ứng đầy đủ và kịp thời nhu cầu của khách hàng.
Tuy nhiên, khi nắm giữ nhiều hàng tồn kho, một lượng tiền mặt của doanh nghiệp sẽ bị chôn trong hàng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 tồn kho, và doanh nghiệp buộc phải gánh chịu chi phí tồn trữ. Vì thế, việc giảm hàng tồn kho có thể làm giảm chi phí nắm giữ và giải phóng tiền mặt, tái đầu tư để gia tăng doanh số. Giảm đầu tư vào hàng tồn kho có cả ưu thế và bất lợi, nhưng nhiều bằng chứng lý thuyết cho rằng nắm giữ hàng tồn kho ít hơn thường làm cải thiện tính thanh khoản và thành quả tài chính doanh nghiệp (Chen và cộng sự, 2005; Swamidass, 2007; Koumanakos, 2008; Capkun và cộng sự, 2009). Hơn nữa, có thể thấy mức độ hàng tồn kho quá dư thừa thường liên quan tới hoạt động bán hàng yếu kém (Singhal, 2005).
Việc quản trị hàng tồn kho có hiệu quả hay không được đo lường thông qua kỳ lưu kho hàng tồn kho. Kỳ lưu kho là khoảng thời gian trung bình từ lúc nguyên vật liệu được mua vào cho tới khi được chuyển hóa thành sản phẩm cuối cùng và bán ra cho người tiêu dùng. Thời gian lưu kho càng dài thì càng cho thấy sự yếu kém trong khâu sản xuất và bán hàng của doanh nghiệp vì có thể hàng tồn kho đã lỗi thời và không bán được nên tồn đọng trong thời gian dài, do đó tiền mặt bị chôn trong hàng tồn kho không thể thu hồi được để tái sản xuất kinh doanh. Kỳ phải trả người bán Kỳ phải trả người bán là khoản thời gian trung bình kể từ khi mua nguyên vật liệu cho đến khi thanh toán tiền cho nhà cung cấp.
Việc mở rộng kỳ phải trả một cách hiệu quả sẽ cho phép doanh nghiệp chiếm dụng tiền của nhà cung cấp lâu hơn, kết quả là cải thiện được tính thanh khoản cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, khi một doanh nghiệp trì hoãn thanh toán tiền cho người bán, doanh nghiệp đã bỏ qua các khoản chiết khấu khi thanh toán sớm và dễ làm tổn hại tới mối quan hệ với nhà cung cấp (Fawcett và cộng sự, 2010). Thời gian trả tiền cho nhà cung cấp dài hơn cũng có thể buộc các nhà cung cấp của doanh nghiệp cung cấp mức dịch vụ thấp hơn (Timme và Wanberg, 2011). Hơn nữa, trả nợ đúng hạn cũng sẽ ngăn ngừa được các hành động kiện tụng từ phía chủ nợ và vì thế sẽ cải thiện hình ảnh công ty.
Vòng quay chuyển đổi tiền mặt Vòng quay chuyển đổi tiền mặt đo lường khoản thời gian tiền được giữ dưới dạng các khoản phải thu, các khoản phải trả và hàng tồn kho cho đến khi trở lại hình thái ban LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 đầu là tiền mặt (Shin và Sonen, 1998). Vòng quay chuyển đổi tiền mặt là thước đo hữu dụng trong việc ước tính lượng tiền mặt mà doanh nghiệp cần nắm giữ để duy trì và phát triển hoạt động kinh doanh. Một doanh nghiệp có vòng quay chuyển đổi tiền mặt ngắn sẽ cần ít tiền mặt hơn để duy trì hoạt động và có thể vẫn tăng trưởng trong khi chỉ bán hàng ở mức lợi nhuận biên thấp. Ngược lại, một doanh nghiệp cho dù có mức lợi nhuận biên cao nhưng vẫn phải cần thêm các nguồn tài trợ để tăng trưởng khi vòng quay chuyển đổi tiền mặt của doanh nghiệp đó quá dài.
Như vậy, chu kỳ chuyển đổi tiền mặt càng ngắn hàm ý hoạt động quản trị dòng tiền càng tốt. Hay nói cách khác, hiệu quả quản lý tốt hơn này liên quan đến việc doanh nghiệp quản trị tốt các khoản phải thu, rút ngắn kỳ lưu kho bình quân và kỳ phải trả người bán được kéo dài hơn. Tổng quan các kết quả nghiên cứu trước đây Trong những năm qua, tác động của quản trị dòng tiền lên thành quả tài chính doanh nghiệp là chủ đề chính của rất nghiều nghiên cứu cả lý thuyết lẫn thực nghiệm ở các quốc gia khác nhau. Phần lớn các nghiên cứu này đều cung cấp bằng chứng cho thấy, doanh nghiệp có thể cải thiện thành quả tài chính bằng cách rút ngắn vòng quay chuyển đổi tiền mặt.
Nói cách khác, việc giảm thời gian thu tiền các khoản phải thu, rút ngắn thời gian lưu kho và trì hoãn thanh toán tiền cho người bán sẽ giúp các công ty gia tăng thành quả tài chính. Tuy nhiên, cũng có một vài nghiên cứu cho thấy kết quả trái ngược, đó là khi rút ngắn kỳ phải trả người bán lại làm gia tăng thu nhập hoạt động (Deloof, 2003; Garcia-Teruel và Martinez-Solano, 2007), hay chu kỳ chuyển đổi tiền mặt dài hơn đi cùng với khả năng sinh lợi cao hơn của doanh nghiệp (Gill và cộng sự, 2010). Các nghiên cứu trước đây thường sử dụng thước đo vòng quay chuyển đổi tiền mặt - CCC để phân tích xem việc rút ngắn vòng quay này có ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực đến khả năng sinh lợi của doanh nghiệp. Moss và Bert Stine (1993), trong bài nghiên cứu “Cash conversion cycle and firm size: a study of retail firms” đã nhận thấy có mối quan hệ giữa vòng quay chuyển đổi tiền mặt, quy mô và thành quả doanh nghiệp.
Dựa trên lập luận và phân tích của mình, Jimmy D.