Chương 1. N hững vấn đê lý thuyết. những người liên quan (stakeholders) không chỉ là cồ đông mà còn là nhân viên, khách hàng, nhà cung cấp, môi trường và các cơ quan nhà nước. Vì thế, Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số 12/2007/QĐ-BTC ngày 13/3/2007 về Quy chế quản trị công ty áp dụng cho các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán/Trung tâm Giao dịch chứng khoán; Thông tư sổ 38/2007/TT-BTC ngày 18/4/2007 hướng dẫn về việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán, trong đó có định nghĩa quản trị công ty là "Hệ thống các quy tắc để đảm bảo cho công ty được định hướng điều hành và được kiểm soát một cách có hiệu quả vì quyền lợi của cổ đông và những người liên quan đến công ty".
Hiện nay, Luật Doanh nghiệp và Luật Chứng khoán (và hướng dẫn thi hành) là hai cơ sờ pháp lý cơ bản nhất trong vẩn đề quản trị công tyế Ở khía cạnh doanh nghiệp, điều lệ là cơ sở của việc xử lý các vấn đề liên quan, về hình thức, các công ty đã có những khuôn khổ cho việc quản trị của mình, tuy nhiên về mặt nội dung và thực thi chưa được rõ ràng. Chính vì thể, trong bản báo cáo đánh giá của Ngân hàng Thế giới các nguyên tắc quản trị công ty ở Việt Nam đều chưa được tuân thủ theo tiêu chuẩn của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD). Thuật ngữ quản trị công ty ra đời nhằm tách biệt giữa quản lý và sở hữu doanh nghiệp. Vì nếu doanh nghiệp có niêm yết hay công ty cổ phần bình thường, thì quản trị công ty vẫn hướng đến bảo vệ quyền lợi của cổ đông và những người có liên quan.
25 QUẢN TRỊ ĐỊA PHƯƠNG. ệ■____________________________________ Ngân hàng Thế giới, Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tể và các ngân hàng khu vực đã tiến hành nhiều chương trình nghiên cứu về quản trị công ty. Từ năm 1999, OECD đã đưa ra các nguyên tắc quản trị công ty và dùng để làm chuẩn mực cho việc đánh giá mức độ tuân thủ các tiêu chí này của các quốc gia trong tổ chức. Ngân hàng Thế giới đã dùng những nguyên tắc này để thực hiện các đánh giá tình hình tuân thủ nguyên tắc của các nước để cung cấp thông tin cho nhà đầu tư.
Vì vậy, các nghiên cứu về quản trị công ty thường đề cập đến những vấn đề mang tính cốt lõi: + Công khai và minh bạch thông tin; + Mâu thuẫn quyền lợi giữa người quàn lý doanh nghiệp, hội đồng quản trị và cổ đông khác; + Vai trò của quản trị viên độc lập, các tồ chức kiểm toán độc lập; + Chính sách đãi ngộ với các nhà quản lý; + Thủ tục phá sản doanh nghiệp; + Quyền tư hữu; + Việc thực thi các điều khoản luật và hợp đồngử - Quản trị dự án (project governance): Là quá trình lập kế hoạch, điều phổi thời gian, nguồn lực và giám sát quá trình phát triển của dự án nhằm đảm bảo cho dự án hoàn thành đúng thời hạn, trong phạm vi ngân sách được duyệt và đạt được các yêu cầu đã định về kỹ thuật và chất lượng sản 26 Chương 1. N hữ ng vấn đề lý thuyết. phẩm dịch vụ bằng những phương pháp và điều kiện tốt nhất cho phép. Quản trị dự án bao gồm ba giai đoạn chủ yếu.
Đó là việc lập kế hoạch, điều phối thực hiện mà nội dung chủ yếu là quản lý tiến độ thời gian, chi phí và thực hiện giám sát các công việc dự án nhằm đạt được những mục tiêu xác định. Lập kế hoạch là giai đoạn xây dựng mục tiêu, xác định công việc, dự tính nguồn lực cần thiết để thực hiện dự án và là quá trình phát triển một kế hoạch hành động thống nhất, theo trình tự logic, có thể biểu hiện dưới dạng các sơ đồ hệ thống hoặc theo các phương pháp lập kế hoạch truyền thống. Điều phối thực hiện dự án là quá trình phân phổi nguồn lực bao gồm tiền vốn, lao động, thiết bị và đặc biệt quan trọng là điều phối và quản lý tiến độ thời gian. Giai đoạn này chi tiết hóa thời gian, lập trình lịch cho từng công việc và toàn bộ dự án (khi nào bẳt đầu, khi nào kết thúc), trên cơ sở đó, bố trí tiền vốn, nhân lực và thiết bị phù hợp.
Giám sát dự án là quá trình theo dõi kiểm tra tiến trình dự án, phân tích tình hình thực hiện, báo cáo hiện trạng và đề xuất biện pháp giải quyết những vướng mắc trong quá trình thực hiện. Cùng với hoạt động giám sát, công tác đánh giá dự án giữa kỳ và cuối kỳ cũng được thực hiện nhằm tổng kết rút kinh nghiệm, kiến nghị các pha sau của dự án. Các giai đoạn cùa quá trình quản lý dự án hình thành một chu trình năng động từ việc lập kế hoạch đến điều phối 27 QUẢN TRỊ ĐỊA PHƯƠNG. ■■___________________________________ thực hiện và giám sát, sau đó phản hồi cho việc tái lập kế hoạch dự án1.
- Quản trị trong tổ chức phi lợi nhuận (non- profĩt governance): Tổ chức phi lợi nhuận hay tổ chức bất vụ lợi (tiếng Anh: Nonprofit organization - viết tắt NPO) là tổ chức không phân phối các quỹ thặng dư của nó cho các cá thể hay cổ đông mà sử dụng các quỹ này để tài trợ cho các mục tiêu hướng tới của tổ chức nhằm mục đích hướng tới cho toàn xã hội. Các loại tổ chức này có thể là các quỹ từ thiện, hiệp hội thương mại, tổ chức nghệ thuật cộng đồng. Ngoài ra, một số tổ chức phi lợi nhuận mang tính toàn cầu như: Wikipedia; Tổ chức Bảo tồn quốc tế; Tổ chức Hòa bình xanh; Viện Goethe; Thanh thương Hội Quốc tế; Viện Quản lý dự án; Quỹ Mozilla; Quỹ quốc tế Bảo vệ thiên nhiên (WWF): một quỳ được thành lập với mục đích bảo vệ các loài vật quý hiếm; AIESEC - Tổ chức sinh viên phi lợi nhuận lớn nhất thể giới; CEP - Quỹ hỗ trợ vốn cho người nghèo tự tạo việc làm. Đa số các chính phủ hoặc cơ quan thuộc chính phủ phù hợp với định nghĩa này nhưng ờ phần lớn các quốc gia thì chúng được xếp vào loại tổ chức khác và không được coi là các tổ chức phi lợi nhuận.
Tổ chức phi lợi nhuận có thể là một tổ chức phi chính phủ nhưng tổ chức phi chính phủ có ý nghĩa rộng lớn hơn, có 1. Nguyễn Bạch Nguyệt, Giáo trình Lập dự án đầu tư, Quản trị. N hữ ng vấn đẽ lý thuyết. thể là tổ chức toàn cầu nhưng hoạt động độc lập và không có liên quan đến chính phủ của bất cứ quốc gia nào.
Tại nhiều quốc gia, muốn được công nhận là tổ chức phi lợi nhuận cần theo một quy trình rõ ràng theo luật pháp nước sở tại và theo thông lệ quốc tế, để xin được công nhận. Mục tiêu cùa các tổ chức phi lợi nhuận là hướng đến các hoạt động mang tính cộng đồng, xã hội. Ví dụ như các vấn đề về phúc lợi xã hội, an sinh xã hội; môi trường; đói nghèo; các dự án phát triển cộng đồng. - Quản trị toàn cầu (gỉobal governance): Là tập hợp các thể chế, quy định, chuẩn tắc và dàn xếp pháp lý nhằm quản lý quan hệ giữa các quốc gia và tạo thuận lợi cho các hoạt động hợp tác quốc tế trên nhiều lĩnh vực vấn đề khác nhau1.
Quản trị toàn cầu có thể được xem là một nhân tố mới làm thay đổi nền chính trị thế giới hiện đại. Quản trị toàn cầu ra đời cùng với sự xuất hiện cùa các chủ thể mới trong quan hệ quốc tế và được thúc đẩy bời ba yếu tố quan trọng. Thứ nhất là sự kết thúc Chiến tranh Lạnh. Điều này làm gia tăng kỳ vọng ràng các tổ chức quốc tế như Liên hợp quốc, các tổ chức hợp tác kinh tế đa phương như Hiệp định chung về Thuế quan và Mậu dịch (GATT) - tiền thân của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) 1.
Xem: Đào Minh Hồng - Lê Hồng Hiệp (Chủ biên), sổ tay thuật ngữ quan hệ quốc tế, Khoa Quan hệ quốc tế - Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2013. 29 QUẢN TRỊ ĐỊA PHƯƠNG. hay Ngân hàng Thế giới (WB) sẽ đóng vai trò lớn hơn trong việc quản lý hệ thống quốc tế. Thứ hai là sự xuất hiện ngày càng nhiều các vấn đề toàn cầu như đói nghèo, bệnh tật, môi trường, tội phạm, di dân.
Vì thế việc giải quyết các vấn đề này đòi hỏi một cách tiếp cận toàn cầu được phối hợp hài hòa giữa các quốc gia với nhau và do đó quản trị toàn cầu trở thành một giải pháp quan trọng nhằm đối phó với các vấn đề này. Thứ ba, quản trị toàn cầu cũng có thể coi là kết quả của quá trình toàn cầu hóa trên nhiều mặt văn hóa, kinh tế, chính trị. Quá trình này đuợc thực hiện thông qua sự phát triển của khoa học công nghệ, sự xuất hiện cùa internet và các phương tiện kỹ thuật khác vốn giúp giảm bớt những cách trở về mặt địa lý và tăng cường các mạng lưới liên kết trên quy mô toàn cầu. Quản trị toàn cầu cũng xuất hiện cùng với những quy định, chuẩn mực chung cho các hoạt động quổc tế.
Các quốc gia khi tham gia vào các tổ chức hợp tác đa phương phải tuân theo những quy định và chuẩn mực này. Luật pháp quổc gia cũng phải thay đổi nhằm tương thích với các quy định của luật pháp quốc tế. Chính vì vậy việc tuân thủ các chuẩn mực quốc tế có thể nói là một dẩu hiệu đặc trưng của quản trị toàn cầu. Ví dụ, các quy định đối với các hoạt động sản xuất hay hệ thống ngân hàng nếu trước đây thuộc toàn quyền quyết định của các quốc gia, thì hiện nay các quốc gia đều tìm cách tuân theo các tiêu chuẩn quốc tế về sản xuất hay quản trị hệ 30 Chương 1.
N hữ ng vấn đề lý thuyết. thống ngân hàng nhàm tăng sức hút của nền kinh tế quốc gia và hội nhập kinh tế quốc tế tốt hơn. Ngoài các cấp độ quản trị nêu trên còn có quản trị nhà nước và quản trị địa phương - đây là một trong những yếu tố cốt lõi của công trình nghiên cứu và sẽ được phân tích, lý giải kỹ lưỡng trong các phần tiếp sau đâyử 2. Quản trị nhà nước a.
Nhận thức chung Quản trị nhà nước là một phạm trù vừa được xem là một cấp độ của quản trị nhưng vừa là một dạng quản trị đặc biệt gắn liền với việc sử dụng quyền lực nhà nước trong hoạt động quản lý của nhà nước.