Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Xuất bản (mã số: 9 32 04 01) với đề tài "Quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản sách điện tử ở Việt Nam hiện nay" được nghiên cứu sinh Trần Chí Đạt thực hiện tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền thuộc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Vũ Trọng Lâm và PGS. Hà Huy Phượng, hoàn thành vào tháng 11 năm 2023.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Xuất bản được xác định là lĩnh vực văn hóa - tư tưởng phục vụ sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Quan điểm chỉ đạo xuyên suốt từ Đề cương văn hóa năm 1943 với ba phương châm dân tộc, khoa học, đại chúng; chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc năm 1946; cho đến Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng khẳng định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội.
Vào những năm cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, bên cạnh xuất bản truyền thống trên giấy, một số nhà xuất bản tại Việt Nam đã bắt đầu làm sách điện tử dưới dạng đơn giản như CD-ROM, DVD hoặc định dạng PDF. Tuy nhiên, trong hơn 10 năm qua, hoạt động xuất bản sách điện tử phát triển chậm, nhỏ lẻ và mang tính tự phát. Xuất bản phẩm điện tử chủ yếu là sách nói (audiobook) hoặc số hóa sách in có sẵn, rất ít tác phẩm được sáng tạo mới trực tiếp trên môi trường số. Tính đến tháng 9-2023, cả nước mới có 22 nhà xuất bản đủ điều kiện được cấp giấy xác nhận đăng ký xuất bản, phát hành xuất bản phẩm điện tử.
Về phương diện thể chế, công tác quản lý nhà nước đã từng bước hình thành thông qua Luật Xuất bản năm 1993, sửa đổi bổ sung năm 2004 (lần đầu tiên có Điều 25 quy định về xuất bản trên mạng thông tin máy tính), năm 2008 và năm 2012 (dành riêng Chương V gồm các Điều từ 45 đến 52 điều chỉnh xuất bản và phát hành xuất bản phẩm điện tử). Cùng với đó là Chỉ thị số 42-CT/TW ngày 25-8-2004 của Ban Bí thư về nâng cao chất lượng toàn diện của hoạt động xuất bản, Quyết định số 115/QĐ-TTg ngày 16-01-2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch xuất bản đến năm 2020 đặt mục tiêu 20 - 30% xuất bản phẩm là điện tử (đến năm 2020 đạt khoảng 450 triệu bản, năm 2030 đạt 700 triệu bản).
Mặc dù có hành lang pháp lý ban đầu, hệ thống quản lý hoạt động xuất bản sách điện tử vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn: tình trạng xuất bản không có giấy phép, vi phạm bản quyền, sao chép lậu và phát tán tràn lan trên Internet; các quy định pháp luật còn chung chung, thiếu hướng dẫn cụ thể về bảo mật số, nhuận bút số hóa, bản quyền và công nghệ định dạng; các cơ quan quản lý chưa có chiến lược chuyên biệt cho xuất bản điện tử. Đúng như nhận định tại Thông báo kết luận số 19-TB/TW ngày 29-12-2016 của Ban Bí thư, công tác chỉ đạo và quản lý nhà nước về xuất bản điện tử còn nhiều bất cập, hạn chế. Do đó, việc nghiên cứu xây dựng một hệ thống quản lý nhà nước khoa học, phù hợp với thực tiễn xuất bản sách điện tử là yêu cầu cấp thiết.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất bản sách điện tử, đề xuất các phương hướng và nội dung cụ thể để hình thành hệ thống quản lý nhà nước phù hợp tại Việt Nam trong thời gian tới.
Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể gồm 5 nội dung:
- Nghiên cứu tổng quan về các công trình khoa học ở Việt Nam và nước ngoài có liên quan đến đề tài luận án.
- Tìm kiếm và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất bản, xuất bản sách điện tử.
- Khái quát kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất bản, xuất bản sách điện tử của một số nước trên thế giới và tại Việt Nam trong giai đoạn vừa qua.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động xuất bản sách điện tử ở Việt Nam từ khi có Luật Xuất bản năm 2004, từ đó xác định những vấn đề cần giải quyết trong luận án.
- Đề xuất phương hướng và các giải pháp tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với xuất bản sách điện tử ở Việt Nam trong thời gian tới.
Giả thuyết nghiên cứu
Luận án xây dựng 3 giả thuyết nghiên cứu:
- Quản lý nhà nước về xuất bản sách điện tử có cơ sở lý luận là những nguyên lý cơ bản của khoa học quản lý liên quan đến các thực thể như chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, nội dung quản lý, công cụ quản lý, bộ máy quản lý, mục tiêu quản lý.
- Quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất bản sách điện tử chưa hiệu quả là do việc sử dụng các phương thức, công cụ quản lý của Nhà nước chưa phù hợp trong thực tiễn, vai trò của chủ thể quản lý chưa được phát huy, chưa có cơ chế phối hợp phù hợp trong quản lý và cần có hệ thống các giải pháp để nâng cao hiệu quả quản lý trong thực tiễn.
- Kết quả nghiên cứu sâu, toàn diện các vấn đề lý luận về quản lý nhà nước về xuất bản sách điện tử là cơ sở khoa học để hình thành ý tưởng xây dựng một hệ thống các biện pháp quản lý nhà nước phù hợp, có hiệu quả đối với hoạt động xuất bản sách điện tử ở Việt Nam hiện nay và trong thời gian tới.
Câu hỏi nghiên cứu
Luận án giải quyết 5 câu hỏi nghiên cứu:
- Quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất bản sách điện tử có ý nghĩa thế nào đối với việc phát triển hoạt động xuất bản nói chung, xuất bản sách điện tử nói riêng và phát triển văn hóa đọc, lan tỏa tri thức trong cộng đồng?
- Vai trò của các chủ thể quản lý được thể hiện như thế nào?
- Bộ máy quản lý nhà nước và các công cụ quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất bản sách điện tử hiện nay hiệu quả chưa, còn những tồn tại, vướng mắc gì?
- Mức độ tính hiệu quả của các công cụ quản lý nhà nước, bộ máy quản lý nhà nước trong quá trình quản lý nhà nước đối với xuất bản sách điện tử thời gian qua, những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến quản lý nhà nước đối với xuất bản sách điện tử cần đặt ra và giải quyết như thế nào?
- Cần ưu tiên những vấn đề gì và cần có những giải pháp nào để thúc đẩy xuất bản sách điện tử phát triển đúng với tiềm năng và nhu cầu xã hội?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản sách điện tử ở Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu: Vấn đề quản lý nhà nước đối với xuất bản sách điện tử tại Việt Nam từ đầu thế kỷ XXI đến năm 2023, lấy mốc thời gian từ khi Luật Xuất bản năm 2004 ra đời (văn bản đầu tiên đưa quy định về xuất bản trên mạng thông tin máy tính vào luật).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả luận án phân chia các công trình nghiên cứu trước đây thành ba nhóm chính gắn liền với các mảng đề tài xuất bản và quản lý xuất bản:
Các hướng nghiên cứu trước đây
- Nhóm nghiên cứu về hoạt động xuất bản và quản lý nhà nước về xuất bản:
- Về lịch sử xuất bản: Cục Xuất bản (1996) với Lịch sử xuất bản sách Việt Nam phân tích các chặng đường phát triển trước 1930, 1930-1945, 1945-1954, 1975-1985 và 1986-1995; Trần Văn Phượng (2000) với Đảng - Bác Hồ khai sinh ngành xuất bản cách mạng Việt Nam thế kỷ XX phân tích Sắc lệnh số 122/SL ngày 10-10-1952 của Chủ tịch Hồ Chí Minh thành lập Nhà in Quốc gia với 4 nhiệm vụ thống nhất quản lý in ấn, xuất bản và phát hành; Ban Tuyên giáo Trung ương (2022) với công trình Xuất bản Việt Nam - 70 năm xây dựng và phát triển (1952-2022) tổng kết hành trình 70 năm của ngành xuất bản.
- Về lý luận, nghiệp vụ và kinh tế xuất bản: Nguyễn Thế Kỷ (2011) với Tài liệu nghiệp vụ công tác báo chí - xuất bản; Phạm Thị Thu (2012) với Lý luận nghiệp vụ xuất bản; Nguyễn Kiểm (chủ biên, 2012) với Một số nghiên cứu về xuất bản nước ta trong những năm gần đây; Nguyễn Hồng Vinh (2011, 2013) nghiên cứu tác động của kinh tế thị trường, đổi mới và sự lãnh đạo của Đảng đối với xuất bản; Đường Vinh Sướng (1993) trong luận án Phó Tiến sĩ kinh tế đã khẳng định tính chất kinh doanh trong hoạt động của nhà xuất bản là tất yếu khách quan, và công trình năm 2013 bàn về cơ chế và thị trường xuất bản; Nguyễn An Tiêm và Nguyễn Nguyên (2015) nghiên cứu mô hình xã hội hóa xuất bản, thành lập tập đoàn và cổ phần hóa.
- Về pháp luật và quản lý nhà nước: Vũ Mạnh Chu (1997) nghiên cứu đổi mới và hoàn thiện pháp luật xuất bản theo định hướng nhà nước pháp quyền; Lê Thanh Bình (2004) nghiên cứu quản lý và phát triển báo chí - xuất bản; Lê Văn Yên (2013) nghiên cứu quản lý nhà nước đối với hoạt động in và phát hành; Nguyễn Anh Tú (2015) bảo vệ luận án tiến sĩ kinh tế về quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất bản; Vũ Thùy Dương và cộng sự (2023) biên soạn giáo trình điện tử Quản lý nhà nước về xuất bản.
- Về kinh nghiệm quốc tế: Nguyễn An Tiêm và Nguyễn Nguyên (chủ biên, 2013) khảo sát tổ chức, quản lý xuất bản của ba nhóm nước (lâu đời, châu Á, Đông Nam Á); Xu và Fang (2008) nghiên cứu tiến trình quốc tế hóa của xuất bản Trung Quốc; Grigoriev và Adjoubei (2009) khảo sát xuất bản tại Nga; Octavio Kulesz (2011) nghiên cứu mô hình xuất bản số tại các quốc gia đang phát triển.
- Nhóm công trình nghiên cứu về công nghệ và quản lý xuất bản sách điện tử trên thế giới:
- Bill Cope và Dean Mason (2002) nghiên cứu sản xuất sách số và quản trị chuỗi cung ứng; John B. Thompson (2005) trong Books in the Digital Age chỉ ra quy luật chuyển dịch từ xuất bản truyền thống sang xuất bản số trong giáo dục đại học ở Anh và Hoa Kỳ, cùng những biến động khi ngành xuất bản va chạm với các tập đoàn công nghệ lớn (Apple, Amazon, Google); Erin Carreiro (2010) phân tích sự thay đổi diện mạo xuất bản dưới tác động của thiết bị đọc số; Châu Úy Hoa (2011, bản dịch tiếng Việt 2017) phân tích truyền thông số và sự chuyển đổi mô hình xuất bản; Alastair Dryburgh (2003) đề xuất khung quyết định cho xuất bản số; Uông Văn Ba (2016) biên soạn Giáo trình xuất bản số tại Trung Quốc; Rüdiger Wischenbart (2014) khảo sát xu hướng xuất bản toàn cầu; Thomas M. Shoesmith và Julian Zou (2016) phân tích các quy định hạn chế nội dung Internet của SAPPRFT và MIIT tại Trung Quốc; Kazuyoshi Takeuchi (2018) và Hiệp hội NXB Nhật Bản (2017-2018) nghiên cứu thị trường xuất bản sách số tại Nhật Bản từ năm 2014; Xiao Chuan Lian (2015) và Zuzana Kalmárová (2012) nghiên cứu sự biến đổi yêu cầu nhân lực số và quản trị xuất bản.
- Nhóm nghiên cứu về sách điện tử và quản lý tại Việt Nam:
- Trần Chí Đạt chủ trì 2 đề tài khoa học cấp Bộ vào năm 2010 (Nghiên cứu xây dựng phương án và quy trình xuất bản công nghệ số của Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông) và năm 2012 (Nghiên cứu quy trình quản trị hệ thống xuất bản trực tuyến); Vũ Trọng Lâm chủ nhiệm đề tài cấp Bộ năm 2014 về thực trạng và giải pháp phát triển xuất bản sách điện tử ở Việt Nam; Nguyễn Văn Tuấn (2007) khảo cứu công nghệ tạo sách điện tử và thiết bị đọc; Vũ Thùy Dương và cộng sự (2014) biên soạn giáo trình Xuất bản sách điện tử; các bài viết chuyên san của Đặng Thành Lê (2022) trên Tạp chí Quản lý nhà nước, Vũ Thùy Dương (2019) trên Tạp chí Lý luận chính trị, cùng các bài thảo luận trên báo chí của Phan Kỷ, Mai Trần, Ngọc Nguyễn, Hà Minh, Cẩm Tú.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Tổng quan tài liệu cho thấy những khoảng trống cụ thể mà chưa có công trình nào giải quyết thấu đáo:
- Chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu chuyên biệt, trực tiếp và hệ thống về quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất bản sách điện tử ở Việt Nam. Hầu hết các tài liệu trước đây chỉ dừng lại ở lý luận chung về xuất bản truyền thống hoặc thuần túy mô tả kỹ thuật, phần mềm công nghệ tạo sách.
- Hệ thống khái niệm, thuật ngữ liên quan đến quản lý nhà nước về xuất bản sách điện tử (xuất bản số, xuất bản phẩm số, định dạng số, số hóa, xuất bản trực tuyến) chưa được xác lập chuẩn xác và đầy đủ.
- Nội dung quản lý nhà nước về xuất bản sách điện tử chưa được định hình rõ ràng, còn bị đánh đồng hoặc sao chép cơ học từ nội dung quản lý sách in truyền thống.
- Cơ cấu tổ chức, vai trò, thẩm quyền và cơ chế phối hợp giữa các thành phần trong bộ máy quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất bản sách điện tử chưa được phân định rành mạch.
- Thiếu các đề xuất hoàn chỉnh về chính sách quản lý, tiêu chuẩn công nghệ, cơ chế bảo vệ bản quyền số, cũng như chế tài xử phạt và biện pháp khuyến khích để luật hóa các hoạt động quản lý xuất bản sách điện tử.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết, khái niệm và khung phân tích
- Cơ sở lý luận: Dựa trên các nguyên lý của khoa học quản lý, lý luận quản lý nhà nước theo ngành kết hợp quản lý theo lãnh thổ; các nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác tư tưởng - văn hóa; đường lối, quan điểm phát triển văn hóa và xuất bản của Đảng Cộng sản Việt Nam.
- Khung khái niệm xác lập trong luận án:
- Xuất bản: Hoạt động truyền bá xã hội, sử dụng các tác phẩm văn hóa vật chất và tinh thần thông qua ba khâu tiếp nối hoàn chỉnh gồm biên tập, in (hoặc nhân bản) và truyền thông, phát hành xuất bản phẩm đến xã hội.
- Sách điện tử (căn cứ khoản 4 và khoản 9 Điều 4 Luật Xuất bản năm 2012): Là sách được định dạng số và được đọc, nghe, nhìn bằng phương tiện điện tử.
- Xuất bản sách điện tử: Việc tổ chức, khai thác bản thảo, biên tập thành bản mẫu và sử dụng phương tiện điện tử để tạo ra sách điện tử phục vụ lưu giữ, phát hành. Điểm khác biệt căn bản so với sách in là không qua công đoạn in cơ học mà sử dụng công nghệ số để biên tập, đóng gói, bảo mật và truyền tải dữ liệu.
- Hoạt động xuất bản sách điện tử: Bao gồm các khâu xuất bản sách điện tử, nhân bản (nếu có) và phân phối, phát hành (công bố) trên các nền tảng điện tử thông qua phương tiện điện tử.
- Quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản sách điện tử: Tiếp cận theo nghĩa rộng (dẫn theo nghiên cứu của Nguyễn Anh Tú), bao gồm toàn bộ quá trình xây dựng chiến lược, quy hoạch, ban hành chính sách, pháp luật cho đến việc chỉ đạo, tổ chức bộ máy, điều tiết và kiểm soát hoạt động của các chủ thể tham gia xuất bản và phát hành sách điện tử. Chu trình quản lý vận hành qua bốn hoạt động: quyết định, tổ chức, điều tiết, và khống chế (kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm).
Phương pháp nghiên cứu thực tế
Luận án áp dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp kết hợp giữa định tính và định lượng:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Thu thập, phân tích và hệ thống hóa các văn kiện của Đảng, văn bản quy phạm pháp luật (Luật Xuất bản các năm 1993, 2004, 2008, 2012; Nghị định 195/2013/NĐ-CP; Quyết định 115/QĐ-TTg), các báo cáo tổng kết ngành và tư liệu học thuật quốc tế.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Thực hiện phỏng vấn 18 người chia thành hai nhóm:
- Nhóm 1 (11 người): Lãnh đạo, nhà quản lý nhà xuất bản, đơn vị làm sách, doanh nghiệp phát hành sách điện tử. Nhằm tìm hiểu việc thực thi trách nhiệm, đánh giá hiệu lực công cụ quản lý, các rào cản chính sách và khả năng tuân thủ của doanh nghiệp.
- Nhóm 2 (07 người): Chuyên gia xuất bản, cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về xuất bản thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông, cán bộ Ban Tuyên giáo Trung ương và Ban Tuyên giáo các tỉnh, thành phố. Nhằm đánh giá hạn chế của bộ máy quản lý, rào cản thể chế và thu thập đề xuất giải pháp chính sách.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (Ankét): Thực hiện qua 2 kênh phiếu giấy và bảng hỏi trực tuyến. Tổng số phiếu phát ra là 480 phiếu, thu về 458 phiếu hợp lệ có đầy đủ thông tin. Dữ liệu khảo sát được làm sạch và xử lý bằng phần mềm SPSS.
- Các phương pháp bổ trợ: Luận án kết hợp phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp và phương pháp dự báo xu thế phát triển công nghệ xuất bản số.
Bảng tổng hợp cơ cấu mẫu nghiên cứu định lượng (N = 458)
| STT |
Đặc điểm mẫu nghiên cứu |
Phân loại nhóm |
Số lượng (người) |
Tỷ lệ (%) |
| 1 |
Giới tính |
Nam |
183 |
40,5 |
|
|
Nữ |
269 |
59,5 |
| 2 |
Nhóm tuổi |
Dưới 35 tuổi |
111 |
24,9 |
|
|
Từ 36 đến 45 tuổi |
202 |
45,3 |
|
|
Trên 45 tuổi |
133 |
29,8 |
| 3 |
Trình độ học vấn |
Cao đẳng, đại học |
247 |
55,0 |
|
|
Trên đại học |
202 |
45,0 |
| 4 |
Cơ quan công tác |
Cơ quan lãnh đạo, quản lý nhà nước về xuất bản |
217 |
47,7 |
|
|
Nhà xuất bản, công ty phát hành sách |
184 |
40,5 |
|
|
Khác (cơ quan nghiên cứu, giảng dạy, chuyên gia, luật gia) |
53 |
11,6 |
| 5 |
Khu vực địa lý |
Miền Bắc |
291 |
63,5 |
|
|
Miền Trung |
67 |
14,6 |
|
|
Miền Nam |
100 |
21,8 |
Cơ cấu mẫu tập trung 63,5% ở miền Bắc do phần lớn cơ quan quản lý Trung ương và trụ sở chính của các nhà xuất bản đều đặt tại khu vực này.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Dữ liệu sơ cấp: Kết quả khảo sát 458 phiếu định lượng và biên bản ghi âm, gỡ băng 18 cuộc phỏng vấn sâu với các nhà quản lý, lãnh đạo nhà xuất bản và chuyên gia.
- Dữ liệu thứ cấp: Các số liệu thống kê thường niên của Cục Xuất bản - In - Phát hành, Bộ Thông tin và Truyền thông giai đoạn từ năm 2004 đến tháng 9-2023; báo cáo tổng kết thực thi Luật Xuất bản năm 2012 và Nghị định số 195/2013/NĐ-CP.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản sách điện tử - Một số vấn đề lý luận cơ bản
Chương 1 xây dựng hệ thống lý luận nền tảng cho quản lý nhà nước đối với xuất bản sách điện tử, phân tích ranh giới và mối tương quan giữa xuất bản in và xuất bản điện tử:
- Luận điểm về tính chất hàng hóa kép của xuất bản phẩm: Xuất bản phẩm điện tử vừa là sản phẩm văn hóa tư tưởng có giá trị định hướng xã hội, vừa là sản phẩm hàng hóa công nghệ. Hoạt động xuất bản sách điện tử lược bỏ khâu in cơ học, chuyển sang quy trình chế bản điện tử, đóng gói tệp tin số (phổ biến dạng EPUB, PDF, audio) và truyền tải trên mạng máy tính, thiết bị di động (smartphone, tablet, eReader).
- Xác lập cấu trúc hệ thống quản lý nhà nước về xuất bản sách điện tử:
- Chủ thể quản lý: Ban Tuyên giáo các cấp (lãnh đạo, chỉ đạo chính trị - tư tưởng); Chính phủ mà trực tiếp là Bộ Thông tin và Truyền thông, Cục Xuất bản - In - Phát hành (quản lý chuyên ngành); các Bộ, cơ quan ngang Bộ phối hợp; Ủy ban nhân dân và Sở Thông tin và Truyền thông các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (quản lý theo địa bàn lãnh thổ).
- Đối tượng quản lý: Các nhà xuất bản, tổ chức, doanh nghiệp phát hành xuất bản phẩm điện tử, đơn vị liên kết xuất bản, tác giả và các nhà cung cấp nền tảng số.
- Nội dung quản lý: Ban hành quy hoạch, chiến lược; ban hành văn bản quy phạm pháp luật; cấp, thu hồi giấy phép và xác nhận đăng ký xuất bản; kiểm tra, lưu chiểu điện tử; thanh tra, xử lý hành vi vi phạm pháp luật và bảo vệ quyền tác giả số.
- Công cụ quản lý: Hệ thống pháp luật; cơ chế, chính sách tài chính - đầu tư; chiến lược, kế hoạch phát triển ngành; tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật an toàn thông tin.
- Hệ thống hóa cơ sở chính trị và pháp lý: Phân tích đường lối của Đảng về công tác xuất bản, quy định tại Điều 25 Luật Xuất bản năm 2004, các Điều từ 45 đến 52 thuộc Chương V Luật Xuất bản năm 2012, và Nghị định số 195/2013/NĐ-CP.
- Kinh nghiệm quốc tế: Luận án phân tích mô hình quản lý nội dung số của Trung Quốc (sự phối hợp giữa cơ quan quản lý báo chí xuất bản SAPPRFT và Bộ Công nghiệp Thông tin MIIT với các quy định cấp phép dịch vụ mạng); kinh nghiệm bảo hộ bản quyền và chuỗi phân phối số tại Hoa Kỳ, Anh; và sự thích ứng thị trường tại Nhật Bản từ năm 2014 khi thị phần sách số tăng dần song hành cùng sự sụt giảm của sách in truyền thống. Từ đó, tác giả rút ra bài học cho Việt Nam về tính đồng bộ của khung pháp lý, xây dựng hạ tầng kỹ thuật tập trung và đào tạo nhân lực số.
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản sách điện tử ở Việt Nam hiện nay
Chương 2 trình bày kết quả phân tích số liệu thống kê thực tế ngành xuất bản kết hợp dữ liệu điều tra xã hội học từ 458 phiếu hỏi và 18 cuộc phỏng vấn sâu:
- Quy mô đơn vị xuất bản số: Tính đến tháng 9-2023, cả nước có 22 nhà xuất bản được cấp xác nhận đăng ký xuất bản, phát hành xuất bản phẩm điện tử. Cơ cấu thị trường còn mất cân đối khi chủ yếu phát triển các dạng sách nói và số hóa sách in sẵn có; số lượng sách điện tử được biên tập, sáng tạo mới rất thấp.
- Kết quả khảo sát mức độ thực hiện nhiệm vụ của cơ quan quản lý (Bảng 2.1, 2.2, 2.3): Đánh giá của các nhóm đối tượng (cơ quan quản lý, nhà xuất bản, chuyên gia) và giữa các vùng miền ghi nhận sự phân hóa rõ rệt; cơ quan quản lý ở Trung ương được đánh giá cao hơn ở khâu ban hành chủ trương, nhưng khâu hướng dẫn triển khai thực tế tại các địa phương còn hạn chế.
- Khảo sát việc đáp ứng điều kiện theo Điều 17 Nghị định 195/2013/NĐ-CP (Bảng 2.13): Đa số các nhà xuất bản chưa đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn kỹ thuật về máy chủ, giải pháp công nghệ bảo vệ bản quyền số (DRM), đường truyền Internet chuyên dụng và nhân sự phụ trách kỹ thuật công nghệ thông tin. Đây là rào cản khiến phần lớn các nhà xuất bản còn lại chưa thể tham gia thị trường sách điện tử.
- Đánh giá công tác đào tạo nhân lực (Bảng 2.14, 2.15): Đội ngũ biên tập viên xuất bản phần lớn được đào tạo theo nghiệp vụ sách in truyền thống, thiếu hụt kiến thức công nghệ số, kỹ năng biên tập đa phương tiện và bảo mật thông tin.
- Đánh giá công cụ pháp luật và kế hoạch (Bảng 2.19 đến Bảng 2.24): Điểm trung bình đánh giá hiệu quả của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật cho thấy các quy định còn thiếu chi tiết, chưa theo kịp tốc độ thay đổi của công nghệ mạng. Các quy định về nộp lưu chiểu điện tử, biểu giá nhuận bút điện tử và trách nhiệm của các nhà mạng viễn thông trong ngăn chặn sách lậu còn thiếu cơ chế thực thi hiệu quả.
- Đánh giá công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm (Bảng 2.17, 2.18): Vi phạm quyền tác giả trên không gian mạng diễn biến phức tạp nhưng số vụ xử phạt hành chính và thu hồi còn ít, thiếu phương tiện kỹ thuật số để giám sát tự động.
- Phân tích nguyên nhân của các hạn chế (Bảng 2.25, 2.26): Luận án chỉ rõ nguyên nhân chủ quan là nhận thức về xuất bản điện tử chưa đầy đủ, thiếu nguồn vốn đầu tư hạ tầng công nghệ tại các nhà xuất bản; nguyên nhân khách quan là môi trường số biến đổi nhanh, thói quen đọc sách có trả phí của người dân chưa cao và công cụ pháp lý còn nhiều khoảng trống.
Chương 3: Định hướng và đề xuất các giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản sách điện tử ở Việt Nam trong thời gian tới
Dựa trên bối cảnh chuyển đổi số và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tác giả xác định mục tiêu và đề xuất hệ thống giải pháp:
- Bối cảnh và mục tiêu: Bám sát các chỉ tiêu của Chiến lược phát triển lĩnh vực xuất bản, in và phát hành giai đoạn 2021-2025 của Bộ Thông tin và Truyền thông, hướng tới việc đưa tỷ lệ xuất bản phẩm điện tử đạt mục tiêu chiến lược và nâng tỷ lệ đọc sách của người dân.
- Định hướng quản lý: Chuyển dịch phương thức quản lý nhà nước từ kiểm soát tiền kiểm thụ động sang kết hợp tiền kiểm với hậu kiểm dựa trên nền tảng công nghệ số; xây dựng môi trường pháp lý minh bạch nhằm thúc đẩy xuất bản sách điện tử phát triển đúng hướng chính trị - tư tưởng.
- Các nhóm giải pháp cụ thể:
- Hoàn thiện hệ thống thể chế, pháp luật: Đề xuất nội dung sửa đổi, bổ sung Chương V Luật Xuất bản năm 2012 và Luật Sở hữu trí tuệ; sửa đổi, nới lỏng các điều kiện cứng nhắc về cơ sở vật chất tại Điều 17 Nghị định số 195/2013/NĐ-CP theo hướng cho phép sử dụng dịch vụ hạ tầng điện toán đám mây đạt chuẩn; ban hành quy chuẩn kỹ thuật định dạng tệp tin sách số quốc gia và quy định cụ thể về nhuận bút số hóa.
- Kiện toàn tổ chức bộ máy và nâng cao năng lực chủ thể quản lý: Thiết lập cơ chế phối hợp liên ngành chặt chẽ giữa Cục Xuất bản - In - Phát hành với Cục An toàn thông tin, Cục Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử, Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (A05 - Bộ Công an) và lực lượng Quản lý thị trường.
- Xây dựng hạ tầng kỹ thuật và nền tảng công nghệ dùng chung (Bảng 3.2, Hình 3.1): Đề xuất mô hình xây dựng một nền tảng dùng chung do Nhà nước đầu tư hoặc chủ trì liên kết, cung cấp miễn phí công cụ số hóa, quy trình biên tập và kênh phát hành số cho các nhà xuất bản nhằm tháo gỡ điểm nghẽn thiếu vốn công nghệ tại từng đơn vị.
- Đào tạo, phát triển nguồn nhân lực xuất bản số: Xây dựng chuẩn chức danh biên tập viên sách điện tử; đổi mới chương trình giảng dạy ngành xuất bản tại các cơ sở đào tạo; định kỳ bồi dưỡng kiến thức an ninh mạng và thương mại điện tử cho cán bộ quản lý và biên tập viên.
- Đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra, bảo vệ bản quyền số và thúc đẩy hợp tác quốc tế: Áp dụng các giải pháp công nghệ rà quét tự động vi phạm bản quyền trên Internet; kiên quyết ngăn chặn các trang web phát tán sách lậu; mở rộng liên kết xuất bản số với các tổ chức xuất bản khu vực và thế giới.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Hệ thống hóa một cách toàn diện cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất bản sách điện tử tại Việt Nam dưới góc độ khoa học xuất bản.
- Làm rõ và chuẩn hóa nội hàm các khái niệm học thuật: sách điện tử, xuất bản sách điện tử, hoạt động xuất bản sách điện tử và quản lý nhà nước về xuất bản sách điện tử.
- Xác lập khung nội dung quản lý nhà nước đặc thù đối với sản phẩm số, phân định rõ chu trình 4 khâu (quyết định, tổ chức, điều tiết, khống chế) và vai trò lãnh đạo của Đảng, vai trò điều hành của cơ quan hành chính nhà nước trong bối cảnh thể chế chính trị và kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Cung cấp bộ dữ liệu thực chứng với 458 phiếu khảo sát định lượng xử lý bằng SPSS và 18 cuộc phỏng vấn sâu chuyên gia, phản ánh trung thực thực trạng quản lý xuất bản sách điện tử ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam.
- Nhận diện những lỗ hổng chính sách, bất cập trong quy định điều kiện cấp phép tại Điều 17 Nghị định 195/2013/NĐ-CP và cơ chế xử lý vi phạm bản quyền trên không gian mạng khiến hoạt động này phát triển chậm chạp (đến tháng 9-2023 mới có 22 nhà xuất bản tham gia).
- Đề xuất các luận cứ thực tiễn trực tiếp phục vụ việc sửa đổi, bổ sung Luật Xuất bản năm 2012, hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật và hoạch định chính sách xuất bản số giai đoạn tới.
- Đề xuất giải pháp xây dựng nền tảng hạ tầng dùng chung cung cấp công cụ làm sách và phát hành số cho các nhà xuất bản, giải quyết bài toán thiếu vốn và công nghệ của các đơn vị xuất bản hiện nay.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án tập trung nghiên cứu trong phạm vi các nhà xuất bản và đơn vị phát hành được cấp phép chính thức theo pháp luật Việt Nam giai đoạn từ 2004 đến 2023. Tỷ lệ mẫu khảo sát tập trung nhiều ở miền Bắc (chiếm 63,5%) do phần lớn trụ sở cơ quan quản lý và nhà xuất bản đặt tại khu vực này. Chưa khảo sát sâu hoạt động tự xuất bản (self-publishing) và các mô hình phát hành nội dung xuyên biên giới không qua hệ thống kiểm duyệt chính thức.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục nghiên cứu cơ chế quản lý pháp lý đối với việc xuất bản sách số trên các nền tảng xuyên biên giới; nghiên cứu vấn đề bảo hộ quyền tác giả đối với nội dung sách được tạo sinh bởi trí tuệ nhân tạo (AI); đánh giá tác động của các mô hình kinh doanh thuê bao số (subscription) đối với quản lý thuế và phát hành xuất bản phẩm điện tử.
Giá trị tham khảo
- Đối với cơ quan quản lý nhà nước: Cung cấp cơ sở khoa học và cứ liệu thực tiễn cho Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Thông tin và Truyền thông, Cục Xuất bản - In - Phát hành và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trong việc sửa đổi Luật Xuất bản năm 2012, hoàn thiện Nghị định 195/2013/NĐ-CP và ban hành các quy chế phối hợp liên ngành xử lý vi phạm bản quyền số.
- Đối với các nhà xuất bản và doanh nghiệp phát hành: Cung cấp tài liệu tham khảo về quy chuẩn điều kiện pháp lý, quy trình chuyển đổi số, định hướng hợp tác công nghệ và áp dụng mô hình nền tảng dùng chung để tối ưu hóa chi phí sản xuất sách số.
- Đối với cơ sở đào tạo và nghiên cứu: Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo giá trị cho giảng viên, sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Xuất bản, Quản lý báo chí - xuất bản, Quản lý văn hóa tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền cùng các viện nghiên cứu chính sách.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa sách điện tử và hoạt động xuất bản sách điện tử như thế nào?
Luận án căn cứ khoản 4 và khoản 9 Điều 4 Luật Xuất bản năm 2012 xác định sách điện tử là sách được định dạng số và được đọc, nghe, nhìn bằng phương tiện điện tử. Hoạt động xuất bản sách điện tử được tác giả định nghĩa là hoạt động xuất bản bao gồm các khâu: xuất bản sách điện tử (tổ chức, khai thác bản thảo, biên tập thành bản mẫu và sử dụng phương tiện điện tử để tạo ra sách điện tử), nhân bản (nếu có) và phân phối, phát hành (công bố) trên các nền tảng điện tử thông qua phương tiện điện tử. Khác với xuất bản truyền thống, quy trình này không có công đoạn in cơ học trên giấy.
2. Dữ liệu mẫu điều tra xã hội học của luận án được thực hiện với quy mô và cơ cấu ra sao?
Khảo sát định lượng được thực hiện với 480 phiếu phát ra, thu về 458 phiếu hợp lệ và xử lý bằng phần mềm SPSS. Cơ cấu mẫu gồm: 40,5% nam và 59,5% nữ; 24,9% dưới 35 tuổi, 45,3% từ 36-45 tuổi, 29,8% trên 45 tuổi; 55% có trình độ cao đẳng, đại học và 45% có trình độ trên đại học. Về cơ quan công tác: 47,7% thuộc cơ quan lãnh đạo, quản lý nhà nước về xuất bản; 40,5% thuộc các nhà xuất bản và công ty phát hành; 11,6% là chuyên gia, giảng viên, nhà nghiên cứu, luật gia. Địa bàn khảo sát gồm miền Bắc (63,5%), miền Trung (14,6%) và miền Nam (21,8%). Đồng thời, tác giả tiến hành phỏng vấn sâu 18 chuyên gia và nhà quản lý (11 lãnh đạo nhà xuất bản/đơn vị phát hành và 7 cán bộ quản lý nhà nước/ban tuyên giáo).
3. Số liệu thực tế về các nhà xuất bản tham gia xuất bản sách điện tử tại Việt Nam đến tháng 9-2023 là bao nhiêu?
Theo số liệu thống kê trong luận án, tính đến tháng 9-2023, tại Việt Nam mới có 22 nhà xuất bản đủ điều kiện được cấp giấy xác nhận đăng ký hoạt động xuất bản, phát hành xuất bản phẩm điện tử (trên tổng số 57 nhà xuất bản cả nước). Sản phẩm điện tử chủ yếu tồn tại ở dạng sách nói (audiobook) hoặc chuyển đổi định dạng tệp tin PDF từ sách in có sẵn, rất ít tác phẩm được sáng tạo nội dung số nguyên bản.
4. Rào cản lớn nhất đối với các nhà xuất bản khi đăng ký hoạt động xuất bản sách điện tử theo quy định hiện hành là gì?
Kết quả khảo sát tại Chương 2 (đặc biệt là Bảng 2.13) chỉ rõ rào cản lớn nhất nằm ở việc đáp ứng các điều kiện khắt khe tại Điều 17 Nghị định số 195/2013/NĐ-CP. Hầu hết các nhà xuất bản thiếu kinh phí đầu tư hệ thống máy chủ chuyên dụng, giải pháp kỹ thuật quản lý quyền kỹ thuật số (DRM) chống sao chép trái phép, đường truyền mạng bảo đảm an toàn và thiếu đội ngũ cán bộ kỹ thuật công nghệ thông tin chuyên trách.
5. Luận án đề xuất giải pháp kỹ thuật mang tính hạ tầng nào để hỗ trợ các nhà xuất bản làm sách điện tử?
Tại Chương 3 (Bảng 3.2 và Hình 3.1), luận án đề xuất giải pháp xây dựng một hạ tầng kỹ thuật và nền tảng số dùng chung do Nhà nước đầu tư hoặc liên kết thiết lập. Nền tảng này cung cấp miễn phí công cụ số hóa, quy trình biên tập điện tử và hệ thống phát hành tập trung cho các nhà xuất bản. Mô hình này giúp các nhà xuất bản không phải tự đầu tư hạ tầng máy chủ và phần mềm bảo mật riêng lẻ, tháo gỡ điểm nghẽn thiếu vốn và nhân lực công nghệ, đồng thời giúp cơ quan quản lý nhà nước dễ dàng kiểm soát lưu chiểu và bảo vệ quyền tác giả số.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Chí Đạt là công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống đầu tiên về công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất bản sách điện tử tại Việt Nam. Bằng việc kết hợp phương pháp nghiên cứu tài liệu, phỏng vấn sâu 18 chuyên gia và điều tra định lượng 458 mẫu xử lý qua SPSS, luận án đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận, đánh giá khách quan thực trạng quản lý và nhận diện các nguyên nhân khiến thị trường sách số trong nước phát triển chưa tương xứng với tiềm năng. Hệ thống giải pháp đề xuất tại Chương 3, đặc biệt là kiến nghị sửa đổi thể chế pháp luật và xây dựng nền tảng công nghệ dùng chung, cung cấp các luận cứ khoa học thực tiễn phục vụ việc hoàn thiện chính sách xuất bản trong giai đoạn chuyển đổi số.