phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luậ ồm 3 chương: Chƣơng I: Cơ sở khoa học trong quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới. 8 Luan van Chƣơng II: Thực trạng quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội. Chƣơng III: Quan điểm, mục tiêu và giải pháp xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyệ ội trong thời gian tới. 9 Luan van Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI a.
Khái niệm nông thôn Theo từ điển Bách khoa toàn thư Thế giới “Nông thôn là khu vực mà ở đó tập trung dân cư sống chủ yếu bằng sản xuất nông nghiệp”. Khái niệm “nông thôn” thường đồng nghĩa với làng, xóm, thôn. Theo các tài liệu nghiên cứu, “làng” là từ nôm, là tiếng nói dân dã, ngạn ngữ đời sống trong dân gian ăn sâu vào trong tâm lý, ý thức của người Việt. GS,TS Hoàng Chí Bảo trong công trình nghiên cứu về “Hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn nước ta hiện nay” cũng cho rằng làng Việt vốn hình thành một cách tự nhiên, ra đời không qua bàn tay nhào nặn của chính quyền Trung ương, mang nét đặc trưng riêng; cùng với sự thay đổi của các triều đại trị vì trong lịch sử mà tên gọi của làng cũng khác nhau: “làng” cũng gọi là "thôn" hoặc "làng xóm", cũng có khi làng cũng chính là "xóm".
Làng - xóm là một cộng đồng địa vực, có ranh giới lãnh thổ tự nhiên và hành chính xác định. Làng là một đơn vị tự cấp, tự túc về kinh tế. Làng xóm vừa có ruộng, có nghề, có chợ tạo thành một không gian khép kín thống nhất. Làng - xóm là một cộng đồng tương đối độc lập về phong tục tập quán văn hoá.
Làng - xóm cũng là một đơn vị tự trị về chính trị [27]. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, nông thôn là: "phần lãnh thổ của một nước hay của một đơn vị hành chính nằm ngoài lãnh thổ đô thị, có môi trường tự nhiên, hoàn cảnh kinh tế xã hội, điều kiện sống khác biệt với thành thị và dân cư chủ yếu làm nông nghiệp" Về mặt địa lý tự nhiên, NT là một địa bàn rộng lớn tạo thành các vành đai bao quanh thành thị. Về kinh tế, NT là địa bàn hoạt động chủ yếu của các ngành sản xuất vật chất 10 Luan van nông - lâm - ngư ngiệp. Ngoài ra nó còn có các ngành nghề phi NN như: CN, TTCN, dịch vụ.
Về tổ chức xã hội - cơ cấu dân cư, ở NT chủ yếu là ND và gia đình họ với mật độ dân cư thấp. Ngoài ra, có một số người làm việc ở NT nhưng sống ở đô thị; một số người làm việc ở đô thị, sống ở NT. Về văn hóa, NT là nơi bảo tồn, lưu giữ các di sản văn hóa truyền thống chủ yếu của dân tộc như: phong tục, tập quán cổ truyền, các ngành nghề truyền thống, các di tích lịch sử. Trình độ dân trí, khoa học công nghệ, và kết cấu hạ tầng của cộng đồng dân cư NT thường thấp kém, thua xa so với đô thị.
Ngày nay, khái niệm “nông thôn” đã mở rộng nội hàm so với “làng”, “bao gồm cả những thị trấn mà sự tồn tại và phát triển của nó phụ thuộc vào nông nghiệp, gắn với nông thôn và bảo đảm các dịch vụ cần thiết cho dân cư ở nông thôn”. Khái niệm về NT đã được nêu rõ tại Thông tư số 54/TT-BNN ngày 21/08/2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: “Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn, được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban Nhân dân xã”. Theo Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4//2010 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển NN, NT: Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn, được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Uỷ ban Nhân dân xã. Đặc điểm của các vùng NT nước ta gắn liền với các loại hình lao động, sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp với tuyệt đại đa số dân cư sinh sống bằng một loại hình lao động, bởi vậy diện mạo các vùng NT rất ít có sự thay đổi nhất là về phương diện kinh tế - xã hội.
“Nông thôn” là một khái niệm thông dụng, nhưng có nội hàm rộng và có thể khác nhau ở các Quốc gia. Ở Việt Nam, theo quy định về hành chính và thống kê, thì NT là những địa bàn thuộc xã (những địa bàn thuộc phường hoặc thị trấn được quy định là khu vực thành thị). Cho đến nay, NT ở nước ta được hiểu là nơi sinh sống và làm việc của một cộng đồng bao gồm chủ yếu là ND, là vùng sản xuất NN là chính. NT có cơ 11 Luan van cấu hạ tầng, trình độ tiếp cận thị trường, trình độ sản xuất hàng hóa thấp hơn so với thành thị.
Nông thôn là khái niệm dùng để chỉ một địa bàn mà ở đó sản xuất NN chiếm tỷ trọng lớn. NT có thể được xem xét trên nhiều góc độ: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội. Kinh tế NT là một khu vực của nền kinh tế gắn liền với địa bàn NT. Kinh tế NT vừa mang những đặc trưng chung của nền kinh tế về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, về cơ chế kinh tế.
vừa có những đặc điểm riêng gắn liền với NT. Xét về mặt kinh tế - kỹ thuật, kinh tế NT có thể bao gồm nhiều ngành kinh tế như: nông-lâm- ngư nghiệp, TTCN, dịch vụ. trong đó nông-lâm-ngư nghiệp là ngành kinh tế chủ yếu. Xét về mặt kinh tế - xã hội, kinh tế NT cũng bao gồm nhiều thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể.
Xét về không gian và lãnh thổ, kinh tế NT bao gồm các vùng như: vùng chuyên canh lúa, vùng chuyên canh cây màu, vùng trồng cây ăn quả. NT trong đó có đầy đủ các yếu tố, các vấn đề xã hội và các thiết chế xã hội. NT thuộc một cơ cấu xã hội, trong đó có hàng loạt các yếu tố, các lĩnh vực nằm trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Khu vực của nền kinh tế mà trong đó các hoạt động sản xuất kinh doanh NN được tiến hành là NT.
Nông thôn là khu vực khác với thành thị về không gian, hoạt động kinh tế, đặc điểm cộng đồng và sinh thái. NT gắn liền với đời sống, tập tục và bản sắc văn hoá của một cộng đồng. Chủ thể của các hoạt động sản xuất kinh doanh NN là nông dân. Theo nghĩa thông thường, nông dân là những người tham gia sản xuất NN.
Trên thực tế, rất nhiều nông dân, ngoài việc tham gia vào sản xuất NN vẫn tham gia vào các hoạt động kinh tế khác như sản xuất TTCN, ngành nghề NT và dịch vụ. NT càng phát triển thì cơ cấu ngành nghề trong NT càng đa dạng. Do đó, khái niệm về nông dân cần được hiểu theo nghĩa rộng hơn. Nông dân là những người dân sống ở nông thôn làm các hoạt động công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ khác nhau tuỳ theo khả năng và lợi thế so sánh của họ.
12 Luan van Nông dân là những người lao động cư trú ở nông thôn, tham gia sản xuất nông nghiệp. Nông dân sống chủ yếu bằng ruộng vườn, sau đó đến các ngành nghề mà tư liệu sản xuất chính là đất đai. Tùy từng quốc gia, từng thời kì lịch sử, người nông dân có quyền sở hữu khác nhau về ruộng đất. Họ hình thành nên giai cấp nông dân, có vị trí, vai trò nhất định trong xã hội.
Khái niệm nông nghiệp có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau : Theo nghĩa thông thường, nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất sử dụng đất đai và sinh vật làm ra sản phẩm nông nghiệp. Cách định nghĩa này chỉ dừng lại ở sản xuất nông nghiệp truyền thống. Tuy nhiên, nền kinh tế càng phát triển thì yêu cầu của xã hội với nông nghiệp càng cao. Nông nghiệp không chỉ đơn thuần là sản xuất ra các sản phẩm tươi sống mà còn bao gồm cả khâu chế biến, marketing và tiêu thụ nông sản.
Do vậy, sản phẩm cuối cùng của nông nghiệp không đơn thuần là nông sản mà thực phẩm nông sản. Do đó, nông nghiệp cần được định nghĩa ở phạm vi rộng hơn. Nông nghiệp là ngành sản xuất – kinh doanh làm ra thực phẩm nông sản, bao gồm cả sản xuất nông nghiệp, chế biến, marketing và phân phối các thực phẩm nông sản. Đặc trƣng cơ bản của nông thôn Nông thôn được xác định theo ba đặc trưng cơ bản sau: a.
Về giai cấp trong xã hội Ở NT con người sinh sống chủ yếu ở đây là ND và còn một số đối tượng khác cùng sinh sống như cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang, thợ thủ công, buôn bán nhỏ, v. Đặc trưng rõ nét nhất của NT là sản xuất NN. Ngoài ra, còn có thể kể đến cấu trúc phi NN bao gồm: dịch vụ, buôn bán, TTCN mà có vai trò rất lớn đối với lĩnh vực sản xuất NN. Về văn hóa NT thường rất đặc trưng với lối sống văn hóa của cộng đồng làng, xã có tính cố kết rất cao.
Đặc trưng này bao gồm rất nhiều khía cạnh như từ hệ thống dịch vụ, sự giao tiếp, đời sống tinh thần, phong tục, tập quán, hệ giá trị, chuẩn mực cho hành vi,. đến khía cạnh dân số, lối sống gia đình, sinh hoạt kinh tế,. đến hệ thống đường xá, năng lượng, nhà ở… Đó là những đặc trưng cơ bản nhất về mặt xã hội học để nhận diện NT. Chính đặc trưng thứ ba đã tạo ra bản sắc riêng, diện mạo riêng cho hệ thống xã hội NT.
Vai trò của nông thôn ản xuất hàng hoá mở, hướng đến thị trường và giao lưu, hội nhập. Để đạt được điều đó, kết cấu hạ tầng của NT phải hiện đại, tạo điều kiện cho mở rộng sản xuất giao lưu buôn bán. Thúc đẩy NN, NT phát triển nhanh, khuyến khích mọi người tham gia vào thị trường, hạn chế rủi ro cho ND, điều chỉnh, giảm bớt sự phân hoá giàu nghèo, chênh lệch về mức sống giữa các vùng, giữa nông thôn và thành thị. Hình thức sở hữu đa dạng, trong đó chú ý xây dựng mới các hợp tác xã theo mô hình kinh doanh đa ngành.
Hỗ trợ các hợp tác xã ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ phù hợp với các phương án sản xuất kinh doanh, phát triển ngành nghề ở NT.