Phần Mở đầu. Chƣơng 1: Những vấn đề cơ bản về quản lý vốn tín dụng đầu tƣ của Nhà nƣớc. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 3: Thực trạng việc quản lý vốn tín dụng đầu tƣ của Nhà nƣớc tại Chi nhánh NHPT Hà Giang.
Chƣơng 4: Phƣơng hƣớng và giải pháp hƣớng tới hoàn thiện công tác quản lý vốn tín dụng đầu tƣ của Nhà nƣớc tại Chi nhánh NHPT Hà Giang. 3 z CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ VỐN TÍN DỤNG ĐẦU TƢ CỦA NHÀ NƢỚC 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò vốn tín dụng đầu tƣ của Nhà nƣớc. Một số khái niệm cơ bản.
Tín dụng, tín dụng nhà nước. - Tín dụng: Theo giáo trình quản trị và kinh doanh ngân hàng “ Tín dụng là sự chuyển nhƣợng tạm thời một lƣợng giá trị từ ngƣời sở hữu nó sang ngƣời sử dụng nó, sau một thời gian nhất định đƣợc quay về với ngƣời sở hữu nó với một lƣợng giá trị lớn hơn lƣợng giá trị ban đầu (bao gồm cả gốc và lãi)” (Học viện Ngân hàng, 2013). Sản xuất kinh doanh hàng hoá ra đời kéo theo sự tất yếu phải ra đời của hoạt động tín dụng để phục vụ; đến lƣợt nó, hoạt động tín dụng sẽ tác động ngƣợc trở lại, thúc đẩy sản xuất và lƣu thông hàng hoá phát triển, cứ nhƣ thế tạo ra mối quan hệ biện chứng cùng thúc đẩy nhau phát triển. Trong thực tế không thể có nền kinh tế phát triển mà ở đó tồn tại một hệ thống tín dụng đơn điệu, yếu kém và ngƣợc lại.
Tín dụng bao gồm các quá trình hoạt động tạo vốn, hoạt động cho vay và hoạt động thanh toán dƣới các loại hình tín dụng khác nhau; Tín dụng thƣơng mại, tín dụng ngân hàng, tín dụng nhà nƣớc, tín dụng quốc tế. Ngoài ra, tín dụng còn có vai trò đặc biệt quan trọng, đó là vai trò tập trung vốn, phân phối vốn, là đòn bẩy, khuyến khích và điều tiết quá trình sản xuất kinh doanh, thông qua việc sử dụng một số chính sách và chế tài tín dụng nhƣ chính sách ƣu đãi về mức vốn, thời gian cho vay, lãi suất cho vay. Ngƣời quản lý điều hành vĩ mô có thể mở rộng sản 4 z xuất vùng này, ngành này hoặc thu hẹp sản xuất ngành khác, vùng khác thông qua công cụ tín dụng. - Tín dụng nhà nước: Theo Luận án tiến sĩ Tín dụng Nhà nƣớc đối với phát triển các tỉnh Tây nguyên “Tín dụng Nhà nƣớc là quan hệ tín dụng giữa Nhà nƣớc với các tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp trong đó Nhà nƣớc với vai trò vừa là ngƣời đi vay, vừa là ngƣời cho vay nhằm mục đích bù đắp thiếu hụt ngân sách, phát triển kinh tế, xã hội theo định hƣớng từng thời kỳ và là công cụ quan trọng để quản lý, điều hành kinh tế vĩ mô” (Vũ Mạnh Bảo, 2011, trang 18).
Khái niệm trên đã làm rõ những vấn đề: Thứ nhất: TDNN là một quan hệ tín dụng bởi vì nó là một loại hình tín dụng nhƣ đã trình bày phần trên nên nó mang đầy đủ đặc trƣng của tín dụng và cũng có những đặc thù riêng có. Thứ hai: Về chủ thể trong quan hệ gồm nhà nƣớc với các tổ chức, dân chúng và doanh nghiệp, trong đó nhà nƣớc vừa là ngƣời đi vay, vừa là ngƣời cho vay. - Với tƣ cách là ngƣời đi vay: Nhà nƣớc sử dụng công cụ nợ nhƣ công trái, trái phiếu, tín phiếu kho bạc, trái phiếu Chính phủ, trái phiếu địa phƣơng, trái phiếu công trình do các định chế tài chính đại diện Nhà nƣớc phát hành. Tuỳ theo mục đích sử dụng và tính chất thiếu hụt nguồn vốn mà Nhà nƣớc phát hành các công cụ nợ khác nhau, thông thƣờng là; Tín phiếu, Trái phiếu,… Ngoài ra, còn có các hình thức vay mƣợn khác thông qua khế ƣớc nhận nợ hoặc các hợp đồng vay, hiệp định vay có phạm vi phát hành trong và ngoài nƣớc, đối tƣợng vay là các cá nhân, DN và các tổ chức kinh tế.
5 z - Với tƣ cách là ngƣời cho vay: Nhà nƣớc cho vay các cá nhân, doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế tham gia đầu tƣ, sản xuất kinh doanh thuộc đối tƣợng khuyến khích phát triển. Cũng nhƣ các loại tín dụng khác, ngƣời đi vay cũng phải thực hiện nguyên tắc tín dụng là hoàn trả gốc và lãi khi đến hạn, tuy nhiên lãi cho vay là lãi suất ƣu đãi, thƣờng thấp hơn so với lãi suất thị trƣờng. Thứ ba: khái niệm đề cập đến vai trò mang tính đặc thù của TDNN, nó là công cụ quan trọng điều tiết các ngành kinh tế, các vùng miền thông qua việc hỗ trợ đầu tƣ với lãi suất và điều kiện tín dụng ƣu đãi vào các ngành, vùng kém phát triển, các ngành kinh tế mũi nhọn, các dự án thời hạn thu hồi vốn dài, rủi ro cao. mà các tổ chức tín dụng thƣơng mại khó có thể đáp ứng.
Tín dụng đầu tư của Nhà nước. Tín dụng đầu tƣ của Nhà nƣớc là sự hỗ trợ của Nhà nƣớc thông qua các hình thức tín dụng để tài trợ các dự án đầu tƣ phát triển thuộc các lĩnh vực, ngành nghề, khu vực Nhà nƣớc cần khuyến khích đầu tƣ. Hoạt động quản lý vốn tín dụng đầu tƣ của Nhà nƣớc đƣợc thực hiện thông qua hệ thống Ngân hàng phát triển và việc tổ chức triển khai công tác tín dụng đầu tƣ của Nhà nƣớc. Nguồn vốn tín dụng đầu tƣ là một kênh vốn quan trọng của vốn Nhà nƣớc đáp ứng cho đầu tƣ phát triển ngoài các kênh vốn khác nhƣ vốn ngân sách, vốn trái phiếu chính phủ,…vv.
Vốn tín dụng đầu tƣ của Nhà nƣớc có những đặc điểm khác biệt so với vốn tín dụng thƣơng mại, đƣợc thực hiện bởi những chính sách riêng về huy động vốn, phƣơng thức tổ chức thực hiện, đối tƣợng đƣợc sử dụng, cách thức hỗ trợ…vv Trên thực tế, tín dụng đầu tƣ của Nhà nƣớc ra đời đã đáp ứng đƣợc mục đích của Nhà nƣớc chuyển từ bao cấp vốn sang hỗ trợ dƣới dạng cho vay có hoàn trả. Ƣu điểm của hoạt động tín dụng đầu tƣ của Nhà nƣớc là các hoạt 6 z động đầu tƣ đƣợc sử dụng nguồn vốn Nhà nƣớc để tạo ra nguồn thu có khả năng hoàn trả khoản vốn đã sử dụng. Nhờ đó tín dụng đầu tƣ của Nhà nƣớc không chỉ góp phần tập trung đƣợc các nguồn vốn cần thiết cho đầu tƣ phát triển mà còn có tác dụng nâng cao hiệu quả sử dụng, bảo toàn và phát triển đƣợc nguồn vốn của Nhà nƣớc. Thông qua tín dụng đầu tƣ, Nhà nƣớc có thể mở rộng và chủ động trong việc giải quyết các mục tiêu dài hạn.
Do tín dụng đầu tƣ của Nhà nƣớc là một hình thức tín dụng đặc biệt, ở đó thƣớc đo hiệu quả không phải là lợi nhuận cá biệt, mà là hiệu quả kinh tế, xã hội, chính trị, phát triển bền vững. Thông thƣờng khi xem xét hiệu quả của tín dụng đầu tƣ của Nhà nƣớc ngƣời ta phải trả lời các câu hỏi sau: - Tính vĩ mô: tín dụng đầu tƣ của Nhà nƣớc ảnh hƣởng nhƣ thế nào đến các lĩnh vực then chốt, đến ngành, vùng, hay khu vực… của nền kinh tế quốc gia? - Tính vi mô: tín dụng đầu tƣ của Nhà nƣớc giúp các chủ thể kinh tế, các nhóm dân cƣ cải thiện chất lƣợng hoạt động nhƣ thế nào? Tính vi mô còn thể hiện ở hiệu quả hoạt động của các tổ chức quản lý và thực thi tín dụng đầu tƣ của Nhà nƣớc. - Tính xã hội: tín dụng ĐTPT của Nhà nƣớc hỗ trợ nhƣ thế nào các lĩnh vực mà tín dụng thƣơng mại với mục tiêu hàng đầu là lợi nhuận có thể không giải quyết đƣợc (do hiệu quả trực tiếp của nhà đầu tƣ không đƣợc đảm bảo, hoặc qui mô nguồn vốn quá lớn, hay thời gian thu hồi vốn đầu tƣ quá dài) nhƣng có vai trò quan trọng đối với xã hội và đất nƣớc nhƣ giải quyết việc làm cho ngƣời lao động, xoá đói giảm nghèo, phát triển bền vững, điều chỉnh cơ cấu kinh tế, phát triển kinh tế vùng,. - Tính chính trị: tín dụng đầu tƣ của Nhà nƣớc hỗ trợ thực thi các chƣơng trình của Nhà nƣớc nhƣ thế nào và đặc biệt là góp phần ra sao trong 7 z củng cố đồng thuận, công bằng xã hội, củng cố lòng tin của dân chúng vào Đảng và Nhà nƣớc.
Ngoài ra, ở các nƣớc đang phát triển, khi thị trƣờng vốn còn chƣa hoàn thiện, việc huy động đƣợc đủ vốn dài hạn để tài trợ cho các dự án phát triển là điều không hề đơn giản. Do vậy, tín dụng đầu tƣ của Nhà nƣớc còn phải hỗ trợ thị trƣờng thông qua bảo lãnh cho các chủ thể vay vốn. Quy mô tín dụng đầu tƣ của Nhà nƣớc phụ thuộc vào sức mạnh tài chính Nhà nƣớc. Đối với các Nhà nƣớc đang chịu gánh nặng thâm hụt ngân sách thì quy mô tín dụng đầu tƣ của Nhà nƣớc khá hạn hẹp.
Quản lý vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước. - Khái niệm quản lý: Theo giáo trình Khoa học quản lý “Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý đến đối tƣợng quản lý nhằm đạt đến mục tiêu của tổ chức trong điều kiện biến động của môi trƣờng” (Nguyễn Hồng Sơn – Phan Huy Đƣờng, 2013, trang 17). - Quản lý vốn tín dụng đầu tƣ của Nhà nƣớc tại Chi nhánh ngân hàng phát triển cấp Tỉnh: Là các hoạt động của Chi nhánh ngân hàng phát triển cấp Tỉnh thực hiện theo quy trình quản lý đối với vốn tín dụng đầu tƣ của Nhà nƣớc nhằm đảm bảo nguồn vốn tín dụng đầu tƣ đƣợc sử dụng có hiệu quả, đảm bảo khả năng thu nợ (gốc + lãi), góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn, hoàn thành tốt các nhiệm vụ Chính phủ giao cho Ngân hàng Phát triển Việt Nam. Các hình thức tín dụng đầu tư của Nhà nước.
Tín dụng đầu tƣ của Nhà nƣớc bao gồm các hình thức: cho vay đầu tƣ, bảo lãnh tín dụng tƣ, hỗ trợ sau đầu tƣ. Cho vay đầu tư. Cho vay đầu tƣ là việc Ngân hàng Phát triển cho các chủ đầu tƣ vay vốn tín dụng đầu tƣ của Nhà nƣớc để thực hiện các dự án đầu tƣ phát triển. 8 z Cho vay đầu tƣ với tƣ cách tín dụng đầu tƣ của Nhà nƣớc có các tính chất sau: - Việc cho vay đầu tƣ đƣợc thực hiện theo trình tự các bƣớc gồm: tiếp nhận và thẩm định (bao gồm thẩm định năng lực chủ đầu tƣ và thẩm định dự án) - Quyết định cho vay - Giải ngân và giám sát tín dụng - Thu hồi nợ/xử lý rủi ro.