CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ BẢO TRÌ HẠ TẦNG GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ Ở ĐỊA PHƯƠNG 1.1 Một số khái niệm và lý luận cơ sở 1.1 Khái niệm và phân loại kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ ở địa phương KCHT là hệ thống các công trình xây dựng, thiết bị kỹ thuật, công nghệ và cơ sở vật chất khác (những yếu tố vật chất) làm nền tảng và điều kỉện cần thiết để cho các quá trình sản xuất và đời sống xã hội hình thành và phát triển. Hiểu một cách khái quát, KCHT là một bộ phận đặc thù của cơ sở vật chất kỹ thuật trong nền kinh tế quốc dân có chức năng, nhiệm vụ cơ bản là đảm bảo những điều kiện chung cần thiết cho quá trình sản xuất và tái sản xuất mở rộng được diễn ra bình thường, liên tục. KCHT cũng được định nghĩa là tổng thể các cơ sở vật chất, kỹ thuật, kiến trúc đóng vai trò nền tảng cho các hoạt động kinh tế - xã hội được diễn ra một cách bình thường. (Trần Thị Quỳnh Như, 2012) KCHT giao thông là một bộ phận của KCHT kinh tế, là những cơ sở vật chất kỹ thuật nền tảng, bao gồm hệ thống các công trình đường bộ, đường thủy, đường sắt, đường hàng không.
với mạng lưới đồng bộ, trực tiếp phục vụ nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đáp ứng yêu cầu di chuyển của các phương tiện vận tải hoặc là nơi để các phương tiện này đón trả khách và xếp, dỡ hàng hóa một cách thuận tiện, nhanh chóng và an toàn đáp ứng nhu cầu hoạt động của nền kinh tế của một quốc gia, một địa phương, hay một vùng, hoặc liên vùng. (Trần Thị Quỳnh Như, 2012) Có nhiều cách phân loại KCHT giao thông, có thể kể đến các cách sau: Phân loại theo công năng vận tải: KCHT giao thông đường bộ; KCHT giao thông đường thủy; KCHT giao thông đường sắt; KCHT giao thông đường hàng không. Phân loại theo vùng, địa lí: giao thông miền núi, giao thông đô thị, giao thông Luan van 11 nông thôn. Căn cứ Luật Giao thông đường bộ số 23/2008/QH12 thì KCHT giao thông đường bộ gồm công trình đường bộ, bến xe, bãi đỗ xe, trạm dừng nghỉ và các công trình phụ trợ khác trên đường bộ phục vụ giao thông và hành lang an toàn đường bộ.
(Quốc Hội, 2008) Công trình đường bộ gồm đường bộ, nơi dừng xe, đỗ xe trên đường bộ, đèn tín hiệu, biển báo hiệu, vạch kẻ đường, cọc tiêu, rào chắn, đảo giao thông, dải phân cách, cột cây số, tường, kè, hệ thống thoát nước, trạm kiểm tra tải trọng xe, trạm thu phí và các công trình, thiết bị phụ trợ đường bộ khác. (Quốc Hội, 2008) Đường bộ gồm đường, cầu đường bộ, hầm đường bộ, bến phà đường bộ. Hành lang an toàn đường bộ là dải đất dọc hai bên đất của đường bộ, tính từ mép ngoài đất của đường bộ ra hai bên để bảo đảm an toàn giao thông đường bộ. Mạng lưới đường bộ được chia thành sáu hệ thống, gồm quốc lộ, đường tỉnh, đường huyện, đường xã, đường đô thị và đường chuyên dùng, quy định như sau: Quốc lộ là đường nối liền Thủ đô Hà Nội với trung tâm hành chính cấp tỉnh; đường nối liền trung tâm hành chính cấp tỉnh từ ba địa phương trở lên; đường nối liền từ cảng biển quốc tế, cảng hàng không quốc tế đến các cửa khẩu quốc tế, cửa khẩu chính trên đường bộ; đường có vị trí đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng, khu vực; Đường tỉnh là đường nối trung tâm hành chính của tỉnh với trung tâm hành chính của huyện hoặc trung tâm hành chính của tỉnh lân cận; đường có vị trí quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; Đường huyện là đường nối trung tâm hành chính của huyện với trung tâm hành chính của xã, cụm xã hoặc trung tâm hành chính của huyện lân cận; đường có vị trí quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện; Đường xã là đường nối trung tâm hành chính của xã với các thôn, làng, ấp, bản và đơn vị tương đương hoặc đường nối với các xã lân cận; đường có vị trí quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của xã; Đường đô thị là đường trong phạm vi địa giới hành chính nội thành, nội thị; Luan van 12 Đường chuyên dùng là đường chuyên phục vụ cho việc vận chuyển, đi lại của một hoặc một số cơ quan, tổ chức, cá nhân.2 Khái niệm vị trí và các loại hình bảo trì kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ 1.1 Khái niệm bảo trì kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ Theo Thông tư 37/2018/TT-BGTVT thì “Bảo trì công trình đường bộ là tập hợp các công việc nhằm bảo đảm và duy trì sự làm việc bình thường, an toàn của công trình đường bộ theo quy định của thiết kế trong quá trình khai thác, sử dụng.
Nội dung bảo trì công trình đường bộ có thể bao gồm một, một số hoặc toàn bộ các công việc sau: kiểm tra, quan trắc, kiểm định chất lượng, bảo dưỡng và sửa chữa công trình nhưng không bao gồm các hoạt động làm thay đổi công năng, quy mô công trình đường bộ.” Chủ thể thực hiện bảo trì kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ bao gồm: Cơ quan quản lý đường bộ là Tổng cục Đường bộ Việt Nam, Cục Quản lý đường bộ, Sở Giao thông vận tải, cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã; đơn vị được Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phân cấp, ủy quyền quản lý đường bộ (sau đây gọi chung là đơn vị được phân cấp, ủy quyền quản lý đường bộ) Doanh nghiệp đầu tư xây dựng và quản lý khai thác công trình đường bộ là doanh nghiệp dự án đối tác công tư (PPP) và doanh nghiệp được nhà nước giao đầu tư xây dựng, quản lý, khai thác công trình đường bộ. Nhà thầu bảo trì công trình đường bộ là các tổ chức, cá nhân thực hiện quản lý, vận hành khai thác và bảo trì công trình đường bộ theo hợp đồng ký với cơ quan trực tiếp quản lý công trình đường bộ, cơ quan được nhà nước giao quản lý dự án bảo trì công trình đường bộ. Nhà thầu bảo trì công trình đường bộ bao gồm: nhà thầu quản lý, bảo dưỡng thường xuyên, vận hành khai thác công trình đường bộ; nhà thầu thi công sửa chữa và các nhà thầu khác tham gia thực hiện các công việc bảo trì công trình đường bộ. Người quản lý, sử dụng công trình đường bộ là chủ sở hữu công trình đường Luan van 13 bộ trong trường hợp chủ sở hữu trực tiếp quản lý, sử dụng công trình đường bộ hoặc tổ chức, cá nhân được chủ sở hữu công trình đường bộ ủy quyền quản lý, sử dụng công trình đường bộ trong trường hợp chủ sở hữu không trực tiếp quản lý sử dụng công trình đường bộ.
Người quản lý, sử dụng công trình đường bộ do nhà nước quản lý là cơ quan trực tiếp quản lý công trình đường bộ hoặc cơ quan đơn vị được Bộ, cơ quan trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao nhiệm vụ trực tiếp quản lý công trình đường bộ; doanh nghiệp được nhà nước giao đầu tư xây dựng và quản lý vận hành khai thác công trình đường bộ; doanh nghiệp dự án trong thời hạn quản lý khai thác công trình đường bộ theo quy định tại hợp đồng dự án đối tác công tư; người quản lý sử dụng công trình đường bộ chuyên dùng là tổ chức, cá nhân chủ sở hữu đường bộ chuyên dùng. Vị trí của bảo trì kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ Quản lý, bảo trì hệ thống giao thông đường bộ có vai trò quan trọng trong việc phát triển và hoàn thiện mạng lưới giao thông của mỗi địa phương. Cùng với xây mới các tuyến đường, công tác duy tu, bảo trì hạ tầng giao thông đường bộ luôn là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của ngành Giao thông Vận tải nhằm kéo dài thời gian sử dụng của công trình, bảo đảm cho các phương tiện tham gia giao thông an toàn, thông suốt. Đối với công trình xây dựng giao thông sau khi hoàn thành, đưa vào vận hành khai thác đều chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi các yếu tố tác động như tải trọng, tốc độ vận chuyển của các phương tiện vận tải và các yếu tố tự nhiên cũng như công tác tổ chức khai thác, điều đó dẫn tới các hư hỏng và làm suy giảm năng lực phục vụ ảnh hưởng đến tuổi thọ và khả năng đảm bảo kỹ thuật ATGT của các công trình giao thông đường bộ.
Thực hiện tốt công tác bảo trì hệ thống đường bộ, chiếu sáng công cộng và hệ thống báo hiệu giao thông đường bộ; sử dụng hiệu quả nguồn vốn trong công tác duy tu sửa chữa hệ thống cầu đường bộ, lắp đặt bổ sung mới các biển báo, đèn tín hiệu giao thông… nhằm đảm bảo an toàn giao thông và mỹ quan của từng địa phương. Luan van 14 Sau nhiều năm sử dụng, các công trình GTĐB đã bị hư hỏng nhiều nhưng vẫn còn có thể sử dụng để đáp ứng nhu cầu trước mắt, cùng với đó là do sự thiếu vốn đầu tư của Nhà nước nên không thể xây dựng mới trong một thời gian ngắn, do đó hàng năm Nhà nước cần phải chi một lượng vốn nhất định để có thể duy trì hoạt động của hệ thống hạ tầng GTĐB. Đây là một giải pháp tốt đối với một nước đang phát triển như Việt Nam để có thể nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống GTĐB nhưng vẫn tiết kiệm được các nguồn lực, điều này là rất quan trọng trong tình trạng thiếu vốn nhưng vẫn còn có quá nhiều mục tiêu đầu tư cấp bách khác.