Quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn thành phố Hòa Bình hiện nay

Luận văn phân tích toàn diện thực trạng quản lý nhà nước về văn hóa tại TP Hòa Bình, chỉ ra thành tựu, hạn chế và đề xuất giải pháp hiệu quả.

Chuyên ngành

Quản lý văn hóa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2011

143
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan quản lý văn hóa TP

Quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn thành phố Hòa Bình giữ vai trò then chốt trong việc định hướng và thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần mà còn là động lực quan trọng, tác động trực tiếp đến việc xây dựng con người và môi trường sống lành mạnh. Công tác quản lý nhà nước về văn hóa tại TP. Hòa Bình bao gồm việc hoạch định chính sách, tổ chức thực hiện và giám sát các hoạt động nhằm bảo tồn di sản văn hóa tỉnh Hòa Bình, phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp, đồng thời tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại. Đặc biệt, với một địa bàn có nhiều dân tộc cùng sinh sống, trong đó nổi bật là văn hóa dân tộc Mường, việc quản lý hiệu quả giúp củng cố khối đại đoàn kết, tạo sự đồng thuận xã hội. Luận văn của Nguyễn Thị Kim Hoa (2011) nhấn mạnh rằng, quản lý tốt các hoạt động văn hóa là "đưa văn hóa phát triển theo mục tiêu đề ra", phục vụ cho mục đích chính trị và sự phát triển bền vững của địa phương. Thực tiễn cho thấy, sự đầu tư và quan tâm đúng mức vào lĩnh vực này đã góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân, tạo ra sản phẩm cho phát triển du lịch văn hóa, và xây dựng hình ảnh một thành phố năng động, giàu bản sắc. Do đó, việc nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp cho công tác quản lý văn hóa là nhiệm vụ cấp thiết, đảm bảo văn hóa thực sự trở thành nguồn lực nội sinh cho sự phát triển toàn diện của thành phố.

1.1. Vai trò của văn hóa đối với sự phát triển kinh tế xã hội

Văn hóa là nhân tố nội sinh, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế-xã hội. Tại TP. Hòa Bình, các hoạt động văn hóa không chỉ đáp ứng nhu cầu tinh thần của người dân mà còn tạo ra các giá trị kinh tế trực tiếp thông qua du lịch và dịch vụ. Việc phát triển văn hóa Hòa Bình một cách bài bản giúp tạo ra môi trường đầu tư hấp dẫn, thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao. Các giá trị văn hóa truyền thống, khi được khai thác hợp lý, sẽ trở thành những sản phẩm du lịch độc đáo, góp phần tăng thu nhập và cải thiện đời sống người dân. Hơn nữa, một nền văn hóa phát triển lành mạnh giúp định hình nhân cách, đạo đức, lối sống, làm giảm các tệ nạn xã hội, đảm bảo an ninh trật tự, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững.

1.2. Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước về văn hóa tại địa phương

Công tác quản lý nhà nước về văn hóa được thực hiện dựa trên hệ thống các văn bản pháp luật, chính sách của Đảng và Nhà nước, từ Hiến pháp, Luật Di sản văn hóa đến các nghị định, chỉ thị liên quan. Theo luận văn gốc, quản lý nhà nước về văn hóa là "sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi của công dân". Tại cấp thành phố, hoạt động này được cụ thể hóa thông qua việc xây dựng kế hoạch, kiện toàn bộ máy tổ chức (Phòng Văn hóa và Thông tin), và triển khai các chương trình hành động cụ thể. Nguyên tắc cốt lõi là đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, và kết hợp hài hòa giữa quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ, nhằm tạo ra một môi trường văn hóa thống nhất nhưng đa dạng.

II. Thực trạng quản lý văn hóa TP

Mặc dù đạt được nhiều thành tựu, công tác quản lý văn hóa tại TP. Hòa Bình vẫn đối mặt với không ít khó khăn và thách thức. Một trong những thách thức trong quản lý văn hóa lớn nhất là sự tác động của kinh tế thị trường và quá trình toàn cầu hóa. Điều này dẫn đến nguy cơ mai một bản sắc văn hóa dân tộc, sự du nhập của các sản phẩm văn hóa ngoại lai thiếu lành mạnh, và lối sống thực dụng trong một bộ phận giới trẻ. Bên cạnh đó, hệ thống chính sách văn hóa đôi khi còn chậm đổi mới, chưa theo kịp thực tiễn. Nguồn lực đầu tư cho văn hóa còn hạn chế, cơ sở vật chất, các thiết chế văn hóa ở cơ sở chưa được quan tâm đúng mức. Luận văn của Nguyễn Thị Kim Hoa chỉ ra "mức đầu tư ngân sách cho văn hoá còn thấp" và "chính sách đào tạo bồi dưỡng, sử dụng, đãi ngộ cán bộ làm công tác văn hoá còn nhiều bất hợp lý". Đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý văn hóa từ thành phố đến xã, phường còn mỏng, trình độ chuyên môn chưa đồng đều. Công tác thanh tra, kiểm tra các hoạt động dịch vụ văn hóa còn gặp nhiều khó khăn, chưa xử lý triệt để các vi phạm. Những vấn đề này đòi hỏi phải có sự nhìn nhận thẳng thắn và các giải pháp đồng bộ để nâng cao hiệu quả quản lý.

2.1. Hạn chế về nguồn lực cho văn hóa và cơ sở vật chất kỹ thuật

Một thực tế phổ biến là nguồn lực cho văn hóa thường chưa được ưu tiên tương xứng với các lĩnh vực kinh tế. Ngân sách nhà nước cấp cho các hoạt động văn hóa, tu bổ di tích lịch sử văn hóa Hòa Bình còn eo hẹp. Nhiều nhà văn hóa xã, phường được xây dựng nhưng hoạt động kém hiệu quả do thiếu trang thiết bị và kinh phí tổ chức. Sự thiếu thốn về cơ sở vật chất làm hạn chế khả năng sáng tạo và hưởng thụ văn hóa của người dân, đặc biệt là ở các khu vực ngoại thành. Việc huy động nguồn lực từ xã hội hóa công tác văn hóa tuy đã được triển khai nhưng kết quả còn khiêm tốn, chưa thu hút được sự tham gia mạnh mẽ của các doanh nghiệp và cộng đồng.

2.2. Bất cập trong hệ thống chính sách và cơ chế phối hợp liên ngành

Hệ thống văn bản pháp quy, chính sách văn hóa tuy đã có nhưng việc triển khai ở cấp cơ sở còn gặp nhiều vướng mắc. Một số chính sách không còn phù hợp với thực tiễn nhưng chậm được sửa đổi, bổ sung. Cơ chế phối hợp giữa ngành văn hóa với các ngành khác như công an, giáo dục, du lịch trong việc quản lý các hoạt động văn hóa nhạy cảm (karaoke, internet, lễ hội) chưa thực sự chặt chẽ và đồng bộ. Điều này dẫn đến tình trạng chồng chéo chức năng hoặc bỏ trống một số lĩnh vực, tạo kẽ hở cho các hiện tượng tiêu cực phát sinh, ảnh hưởng đến môi trường văn hóa chung của thành phố.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa Hòa Bình

Để khắc phục những hạn chế, việc nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa là yêu cầu cấp bách. Giải pháp trọng tâm đầu tiên là hoàn thiện thể chế và chính sách. Cần rà soát, bổ sung và xây dựng mới các văn bản quy phạm pháp luật phù hợp với điều kiện thực tế của TP. Hòa Bình, đặc biệt là các quy định về quản lý dịch vụ văn hóa, quảng cáo, và bảo tồn di sản. Tiếp theo, cần kiện toàn bộ máy tổ chức và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ. Phòng Văn hóa và Thông tin thành phố cần được tăng cường cả về số lượng và chất lượng, thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ văn hóa cấp xã, phường. Như đề xuất trong luận văn, cần có "giải pháp về công tác đào tạo, sử dụng đội ngũ cán bộ quản lý văn hóa của Thành phố". Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm các vi phạm trong hoạt động văn hóa là biện pháp mang tính răn đe, giúp lập lại trật tự kỷ cương. Đồng thời, cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, xây dựng cơ sở dữ liệu về di sản văn hóa, các cơ sở kinh doanh dịch vụ văn hóa để việc theo dõi và chỉ đạo được thuận lợi, minh bạch và hiệu quả hơn.

3.1. Hoàn thiện bộ máy và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ văn hóa

Con người là yếu tố quyết định. Cần xây dựng quy hoạch phát triển đội ngũ cán bộ văn hóa dài hạn, có chính sách thu hút, đãi ngộ hợp lý để giữ chân người tài. Chú trọng đào tạo chuyên sâu về nghiệp vụ quản lý nhà nước về văn hóa, kiến thức pháp luật, kỹ năng tổ chức sự kiện và khả năng tham mưu chính sách. Cán bộ văn hóa cơ sở không chỉ là người thực thi mà còn phải là hạt nhân nòng cốt trong việc khơi dậy và tổ chức các phong trào văn hóa tại cộng đồng, góp phần xây dựng đời sống văn hóa cơ sở một cách thực chất.

3.2. Tăng cường công tác thanh tra kiểm tra và xử lý vi phạm

Hiệu lực quản lý nhà nước thể hiện rõ nhất qua công tác thanh tra, kiểm tra. Cần xây dựng kế hoạch thanh tra định kỳ và đột xuất, tập trung vào các lĩnh vực nhạy cảm như karaoke, internet, xuất bản phẩm. Đội kiểm tra liên ngành cần hoạt động thường xuyên, quyết liệt và công tâm. Việc xử lý vi phạm phải đảm bảo tính nghiêm minh, công khai, đúng pháp luật để tạo sự công bằng và có tác dụng giáo dục, phòng ngừa chung. Tăng cường phối hợp với lực lượng công an và chính quyền cơ sở để nắm bắt kịp thời thông tin và xử lý hiệu quả các vấn đề phát sinh.

IV. Phương pháp xây dựng đời sống văn hóa cơ sở tại TP

Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở là nền tảng để phát triển văn hóa bền vững. Trọng tâm của công tác này là đẩy mạnh phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa". Cần tiếp tục nâng cao chất lượng các danh hiệu gia đình văn hóa, làng, khu phố văn hóa, tránh chạy theo thành tích. Một giải pháp quan trọng được luận văn nhấn mạnh là "đẩy mạnh hoạt động xã hội hóa trên lĩnh vực văn hóa". Cần tạo cơ chế, chính sách thông thoáng để khuyến khích các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân đầu tư vào việc xây dựng các thiết chế văn hóa, tổ chức các hoạt động văn hóa nghệ thuật. Phát huy vai trò của các nghệ nhân dân gian trong việc bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể Hòa Bình, đặc biệt là không gian văn hóa cồng chiêng và các làn điệu dân ca Mường. Các nhà văn hóa, trung tâm học tập cộng đồng cần đổi mới nội dung và phương thức hoạt động để thu hút đông đảo người dân tham gia. Tổ chức thường xuyên các lễ hội truyền thống Hòa Bình, các giải thi đấu thể thao quần chúng, liên hoan văn nghệ để tạo sân chơi lành mạnh, tăng cường giao lưu và củng cố tình làng nghĩa xóm, góp phần xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phong phú.

4.1. Đẩy mạnh xã hội hóa công tác văn hóa huy động mọi nguồn lực

Nhà nước giữ vai trò định hướng, kiến tạo và hỗ trợ, trong khi cộng đồng và doanh nghiệp là chủ thể tham gia thực hiện. Cần có chính sách ưu đãi cụ thể (về thuế, đất đai) cho các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực văn hóa. Khuyến khích thành lập các quỹ hỗ trợ phát triển văn hóa, các câu lạc bộ, đội văn nghệ tư nhân. Việc xã hội hóa công tác văn hóa không chỉ giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước mà còn phát huy tối đa tiềm năng, sức sáng tạo trong nhân dân, tạo ra các sản phẩm và dịch vụ văn hóa đa dạng, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội.

4.2. Phát huy vai trò các thiết chế văn hóa và cộng đồng dân cư

Mỗi làng, khu phố cần xây dựng và thực hiện tốt quy ước văn hóa, đề cao các giá trị đạo đức truyền thống, tinh thần tương thân tương ái. Các thiết chế như nhà văn hóa, thư viện, điểm bưu điện văn hóa xã cần được đầu tư và khai thác hiệu quả, trở thành trung tâm sinh hoạt văn hóa, chính trị của cộng đồng. Phát huy vai trò của các tổ chức đoàn thể (Mặt trận Tổ quốc, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên) trong việc tổ chức và vận động nhân dân tham gia xây dựng đời sống văn hóa cơ sở.

V. Hướng đi mới Phát triển du lịch văn hóa gắn với bản sắc dân tộc

TP. Hòa Bình sở hữu tiềm năng to lớn để phát triển du lịch văn hóa. Đây là hướng đi bền vững, vừa mang lại lợi ích kinh tế, vừa góp phần bảo tồn và quảng bá các giá trị văn hóa độc đáo. Giải pháp cốt lõi là xây dựng các sản phẩm du lịch đặc thù dựa trên nền tảng bản sắc văn hóa dân tộc. Cần quy hoạch và đầu tư tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa Hòa Bình như nhà tù Hòa Bình, các di chỉ khảo cổ học... để trở thành những điểm tham quan hấp dẫn. Khai thác hiệu quả giá trị của văn hóa dân tộc Mường, xây dựng các làng du lịch cộng đồng nơi du khách có thể trải nghiệm cuộc sống, ẩm thực, và tham gia vào các sinh hoạt văn hóa như múa sạp, trình diễn cồng chiêng. Các lễ hội truyền thống Hòa Bình cần được tổ chức với quy mô và chất lượng cao hơn, kết hợp các yếu tố văn hóa truyền thống và hiện đại để thu hút du khách. Việc liên kết giữa ngành văn hóa và du lịch cần chặt chẽ hơn trong việc xây dựng tour, tuyến, đào tạo hướng dẫn viên và quảng bá hình ảnh văn hóa Hòa Bình ra cả nước và quốc tế. Đây là con đường tất yếu để văn hóa thực sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của thành phố.

5.1. Khai thác các di tích và di sản văn hóa phi vật thể đặc sắc

Cần có một chiến lược tổng thể để khai thác bền vững các giá trị di sản. Đối với di tích lịch sử văn hóa, cần tập trung vào công tác trùng tu, tôn tạo gắn với việc xây dựng các câu chuyện, bài thuyết minh hấp dẫn. Đối với văn hóa phi vật thể Hòa Bình, cần hỗ trợ các nghệ nhân, các đội cồng chiêng, thành lập các câu lạc bộ để duy trì và trình diễn thường xuyên phục vụ du khách. Xây dựng các chương trình biểu diễn nghệ thuật dân gian chuyên nghiệp, kết hợp với ẩm thực địa phương để tạo ra những trải nghiệm trọn vẹn và khó quên.

5.2. Xây dựng thương hiệu du lịch dựa trên không gian văn hóa Mường

Thương hiệu du lịch của Hòa Bình gắn liền với không gian văn hóa cồng chiêng và nền văn hóa Mường cổ xưa. Cần xây dựng các sản phẩm du lịch độc quyền mang thương hiệu này. Ví dụ, tour "Theo dấu chân người Mường cổ", "Đêm hội cồng chiêng bên sông Đà"... Việc xây dựng thương hiệu mạnh không chỉ giúp thu hút du khách mà còn nâng cao ý thức tự hào và trách nhiệm của cộng đồng trong việc gìn giữ, bảo tồn di sản văn hóa tỉnh Hòa Bình.

04/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH -TỈNH HÒA BÌNH 1. QUAN NIỆM QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VĂN HÓA 1. Khái niệm, đặc điểm và bản chất của quản lý nhà nước Khái niệm quản lý Quản lý là hoạt động tất yếu khách quan của mọi quá trình lao động xã hội. Nói quản lý là nói đến một dạng hoạt động có mục đích của chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định đã định trước thông qua nguyên tắc, hình thức, phương pháp nào đó thích hợp.

Quản lý bao giờ cũng có tính mục đích, tính tổ chức và hướng tới tính hiệu quả. Như vậy, nó là một quá trình bao gồm chuỗi hoạt động khác nhau để đạt được kết quả mà chủ thể ngầm định đề ra. Để tồn tại và phát triển, quản lý cần thiết đối với mọi phạm vi hoạt động của xã hội. Có nhiều cách tiếp cận nghiên cứu về hoạt động quản lý, chúng ta có thể hiểu khái niệm về hoạt động như sau: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý đến đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức để đạt mục tiêu đặt ra trong điều kiện môi trường luôn biến động.

Trong hoạt động quản lý, phải có ít nhất phải có một chủ thể quản lý (cá nhân hay cơ quan), và ít nhất một đối tượng quản lý (con người - một cá nhân hay nhiều người, hoặc một bộ phận của giới vô sinh hay sinh vật), gián tiếp hay trực tiếp tiếp nhận sự tác động của chủ thể quản lý. Hoạt động quản lý bao giờ cũng nhằm đạt được một mục đích nhất định. Các yếu tố khác tạo nên môi trường của hệ thống, chính là khách thể của hoạt động quản lý. 19 Quản lý nhà nước Nói đến quản lý nhà nước, là nói đến việc quản lý hành chính có tính quyền lực của nhà nước (còn gọi là quyền hành pháp trong hành động).

Quản lý nhà nước là hoạt động diễn ra thường xuyên, hàng ngày, có tổ chức, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của công dân, bằng việc đưa ra các quyết định quản lý mang tính quy phạm. Có thể hiểu khái niệm quản lý nhà nước như sau: Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi của công dân do các cơ quan trong hệ thống hành chính từ trung ương đến cơ sở tiến hành để thực hiện được chức năng nhiệm vụ của nhà nước, nhằm phát triển kinh tế - xã hội, duy trì trật tự an ninh, thỏa mãn nhu cầu hàng ngày của nhân dân. Công tác quản lý hành chính nhà nước được thực hiện bởi hệ thống pháp nhân công quyền-thiết chế tổ chức hành chính nhà nước. Trong hệ thống đó, đứng đầu là Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ, đến các Bộ, các cơ quan hành chính nhà nước TW, các cấp quản lý hành chính Nhà nước địa phương có chức năng tổ chức và điều hành các quá trình kinh tế, văn hóa, xã hội và quốc phòng an ninh…, cũng như mọi hoạt động của tổ chức và công dân.

Từ khái niệm trên, ta thấy quản lý ở tầm vĩ mô chính là công tác quản lý Nhà nước. Loại hình quản lý này luôn mang tính quyền lực với đặc trưng tổ chức chặt chẽ và cứng nhắc bởi nó dựa cơ sở các khuôn mẫu pháp lý. Quan hệ giữa khách thể quản lý và chủ thể quản lý trong loại hình này là mối quan hệ không bình đẳng. Chính vì thế trong quản lý Nhà nước mọi mệnh lệnh, quyết định quản lý luôn luôn mang tính một chiều, bắt buộc nên khi cần các chủ thể quản lý có thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế đối tượng phải thi hành.

Mọi mệnh lệnh, quyết định quản lý đề ra phải được chấp hành nghiêm túc, triệt để, xác định rõ trách nhiệm pháp lý và xử lý nghiêm minh mọi hành vi sai trái hoặc cố ý làm trái dẫn đến kết quả không mong đợi. 20 Quản lý nhà nước là hoạt động có mục tiêu rõ ràng, có chiến lược và kế hoạch để thực hiện mục tiêu. Vì thế, đòi hỏi các cơ quan Nhà nước phải xác định mục tiêu, xây dựng chiến lược và kế hoạch thực hiện nhằm đạt các mục tiêu đã định của cấp trên và theo đúng đường lối, chính sách của Đảng. Trên cơ sở quy định của pháp luật và mục tiêu, định hướng, kế hoạch đã được xác định cơ quan quản lý các cấp phải phát huy tính chủ động, sáng tạo của mình trong quản lý, điều hành, nhằm động viên, phát huy được mọi tiềm năng của các nguồn lực nhằm tạo nên sức mạnh tổng hợp, thực hiện có hiệu quả chức năng nhiệm vụ của mình theo đúng quy định của pháp luật, đúng thẩm quyền đã được phân công, phân cấp, bảo đảm nguyên tắc tập trung, dân chủ, trách nhiệm quản lý theo ngành và lãnh thổ.

Quản lý nhà nước luôn đảm bảo nguyên tắc công khai, dân chủ, điều đó thể hiện tinh thần tôn trọng khách thể, biết lắng nghe tiếp thu ý kiến của nhân dân. Quản lý theo đúng luật sẽ góp phần tích cực vào việc lập lại trật tự kỷ cương trong tình hình văn hoá - xã hội hiện đang có những vấn đề bất cập. Trong quá trình hội nhập quốc tế, nền kinh tế toàn cầu, những thành tựu của công nghệ thông tin được ứng dụng rộng rãi cũng tạo ra những tác động qua lại giữa các nền văn hoá khi giao lưu trong công cuộc hội nhập. Về bản chất, quản lý nhà nước là một hoạt động xã hội đặc trưng luôn mang tính giai cấp.

Trong các xã hội có giai cấp đối kháng bản chất của quản lý là đối lập với quần chúng. Trong xã hội cũ, để giữ yên được trật tự xã hội bao giờ người quản lý cũng tìm cách buộc quần chúng làm theo ý của mình trên cơ sở cưỡng chế buộc mọi người phải phục tùng. Trong lịch sử quản lý phương Đông, chúng ta nhận thấy rõ các mô hình quản lý như: Pháp trị - cai trị bằng pháp luật, bao gồm thứ nhất, là trọng pháp. Đây là hình thức lấy pháp luật làm đầu, không kể thân quen miễn sao đạt được mục tiêu đề ra.

Thứ hai, là trọng thế, xuất phát từ quan niệm nước không thể một ngày không có vua, 21 mà vua giỏi thì ít, vì vậy phải tạo ra cho vua một uy thế khác thường để quần chúng nhân dân phục tùng. Thứ ba, là trọng thuật tức đề cao kỹ thuật quản lý, buộc họ phải theo mình, muốn làm phản cũng không được. Đối lập với pháp trị là hình thức đức trị. Đức trị là hình thức dùng đạo đức để cảm hoá và thuyết phục khuyên giải can ngăn mọi người trong mối quan hệ xã hội (cấp trên phải tốt hơn một chút, cấp dưới phải nhịn một chút).

Trong xã hội phương Đông xưa, người ta dùng những hình thức quản lý trên là tạo cho mọi người sợ và biết tự ngăn đe các việc làm chưa tốt của mình. Giữa pháp trị và đức trị có sự đan xen bổ sung cho nhau. Vì vậy, người ta đi đến một biện pháp trung hoà là phối hợp giữa đức trị và pháp trị để quản lý xã hội, tuỳ từng hoàn cảnh mà sử dụng mặt này là chính hay mặt kia là chính. Ở Việt Nam, do hoàn cảnh lịch sử, địa văn hóa quy định nên buộc mọi người phải gắn bó với nhau, để cùng nhau tồn tại nên biện pháp đức trị và pháp trị trong quản lý cũng được các triều đại phong kiến chú ý sử dụng.

Tóm lại, quản lý nhà nước là quá trình tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể (người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng quản lý) về mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế… bằng hệ thống luật lệ, chính sách, nguyên tắc, phương pháp và biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng. Đối tượng của quản lý có thể trên quy mô toàn cầu, khu vực, quốc gia, ngành, đơn vị, có thể là một con người cụ thể, sự vật cụ thể. Quản lý thể hiện việc tổ chức, điều hành tập hợp người, công cụ, phương tiện tài chính… để kết hợp các yếu tố đó với nhau nhằm đạt được mục tiêu định trước. Trình độ quản lý của một xã hội, đánh dấu sự phát triển của xã hội đó trong những giai đoạn lịch sử nhất định.

Trình độ quản lý xã hội thể hiện ở sự hoàn thiện hệ thống tổ chức bộ máy, thể chế và trình độ của đội ngũ cán bộ 22 quản lý. Quản lý nhà nước về văn hoá là một dạng quản lý xã hội đặc thù, mang tính tất yếu. Khái niệm, bản chất và đặc điểm của quản lý nhà nước về văn hoá Quan niệm về văn hóa Có rất nhiều quan niệm/định nghĩa về văn hoá. Một số nhà nghiên cứu mácxít cho rằng: Văn hoá là một lĩnh vực thực tiễn của đời sống xã hội thể hiện trình độ phát triển năng lực bản chất của con người mà cốt lõi là lao động, sáng tạo và tư duy trong việc cải tạo, chinh phục tự nhiên, cải tạo xây dựng xã hội, phát triển và hoàn thiện nhân cách con người theo hướng vươn tới những cái đúng, cái tốt, cái đẹp.

Những lực lượng bản chất người đó phải được đối tượng hoá, khách quan hoá, chuẩn mực hoá thành toàn bộ những giá trị vật chất và giá trị tinh thần dưới dạng quá trình và dưới dạng trạng thái mà con người đã sáng tạo ra trong quá trình lịch sử. Theo UNESCO: Văn hoá là những gì đặc sắc, tiêu biểu nhất của một cộng đồng, một dân tộc, một quốc gia được các thành viên trong cộng đồng chấp nhận, là những cái có giá trị nhất. Văn hoá bao gồm văn hoá vật chất, văn hoá tinh thần, văn hoá sinh hoạt, văn hoá thắng cảnh. Năm 1988, UNESCO phát động Thập kỷ thế giới phát triển văn hoá (1988-1997), Tiến sĩ Federico Mayor (nguyên Tổng Giám đốc UNESCO) đã nêu: ‘Văn hoá là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo của các cá nhân và cộng đồng, trong quá khứ và trong hiện tại.

Qua các thế kỷ hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành tạo nên hệ thống giá trị, các truyền thống, thị hiếu - đặc trưng riêng của mỗi dân tộc”[16, tr.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ