Tổng quan luận án
Công tác xã hội (CTXH) đóng vai trò điều phối và kết nối các nguồn lực xã hội nhằm trợ giúp các đối tượng yếu thế, trong đó người khuyết tật (NKT) là nhóm đối tượng nhận được sự quan tâm của chính sách phúc lợi xã hội tại Việt Nam. Quản lý trường hợp (Case Management - QLTH) là một phương pháp thực hành trong CTXH, được triển khai phổ biến trên thế giới nhưng là vấn đề mới tại Việt Nam cả về phương diện lý luận lẫn thực tiễn. Về mặt thể chế, ngày 06/01/2015, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã ban hành Thông tư số 01/2015/TT-BLĐTBXH hướng dẫn về quản lý trường hợp người khuyết tật (có hiệu lực từ ngày 25/02/2015) trong khuôn khổ Đề án phát triển nghề Công tác xã hội giai đoạn 2010–2020. Tuy nhiên, tính đến thời điểm nghiên cứu, việc áp dụng mô hình này trên toàn quốc còn gặp nhiều vướng mắc và mới chỉ được triển khai thí điểm tại 3 địa phương gồm Đà Nẵng, Phú Thọ và Đồng Nai; đồng thời chưa có công trình nghiên cứu quy mô lớn nào đánh giá toàn diện việc thực hiện các nhiệm vụ QLTH của đội ngũ cán bộ tại cơ sở.
Đà Nẵng là địa phương thành lập mạng lưới QLTH và giám sát trợ giúp NKT từ đầu năm 2014 tại 56 xã, phường với gần 200 cán bộ thuộc 3 ngành: Lao động - Thương binh và Xã hội, Y tế, Giáo dục và Đào tạo, đồng thời đã thiết lập và quản lý hồ sơ cho hơn 1.680 NKT. Luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Đỗ Nghiêm Thanh Phương với đề tài "Nhiệm vụ quản lý trường hợp đối với người khuyết tật từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng" (chuyên ngành Công tác xã hội, mã số 9.900101, bảo vệ năm 2023 tại Học viện Khoa học Xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Nguyễn Hữu Chí và TS. Hà Thị Thư) được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống nghiên cứu nêu trên.
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ cơ sở lý luận về QLTH đối với NKT; phân tích thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thực hiện nhiệm vụ QLTH của cán bộ quản lý trường hợp (CBQLTH) đối với NKT tại thành phố Đà Nẵng; từ đó đề xuất và thực nghiệm các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện các nhiệm vụ này.
Các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số theo văn bản bao gồm:
- Nghiên cứu hệ thống lý luận về quản lý trường hợp, quản lý trường hợp đối với người khuyết tật, các vấn đề lý luận về nhiệm vụ quản lý trường hợp và các yếu tố ảnh hưởng đến nhiệm vụ quản lý trường hợp làm cơ sở lý luận của đề tài.
- Nghiên cứu thực tiễn các nhiệm vụ trong quản lý trường hợp đối với người khuyết tật của cán bộ quản lý trường hợp ở thành phố Đà Nẵng bao gồm mức độ thực hiện nhiệm vụ, kỹ thuật tiến hành, chỉ ra các hạn chế trong quá trình thực hiện và đề xuất giải pháp điều chỉnh, thay đổi.
- Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thực hiện nhiệm vụ quản lý trường hợp đối với người khuyết tật của cán bộ quản lý trường hợp tại Đà Nẵng như kiến thức, kỹ năng của cán bộ quản lý trường hợp, năng lực của các cơ sở cung cấp dịch vụ, chính sách và nguồn lực địa phương.
- Thực nghiệm biện pháp nâng cao chất lượng thực hiện nhiệm vụ quản lý trường hợp của cán bộ quản lý trường hợp đối với người khuyết tật và đưa ra các đề xuất điều chỉnh công tác thực hiện các nhiệm vụ này có hiệu quả hơn.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Nhiệm vụ quản lý trường hợp đối với người khuyết tật.
- Giới hạn về đối tượng: Mức độ thực hiện nhiệm vụ quản lý trường hợp và các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ này ở cán bộ quản lý trường hợp người khuyết tật.
- Khách thể nghiên cứu: Khách thể chính thức gồm 167 CBQLTH người khuyết tật tại các xã, phường và trung tâm CTXH trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Khách thể phụ trợ gồm 14 gia đình/người chăm sóc người khuyết tật và 8 người khuyết tật. Mẫu thực nghiệm gồm 30 CBQLTH.
- Phạm vi không gian: Khảo sát thực trạng trên toàn bộ các quận, huyện thuộc thành phố Đà Nẵng và triển khai thực nghiệm biện pháp can thiệp tại quận Hải Châu.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã phân tích và tổng hợp các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo các nhóm nội dung cụ thể:
Các nghiên cứu quốc tế về quản lý trường hợp:
- Về lý luận chung: Tiêu chuẩn Quản lý trường hợp của Hiệp hội Nhân viên Công tác xã hội Mỹ (NASW, 2013) xác định QLTH là quá trình thay mặt thân chủ/gia đình lập kế hoạch, tìm kiếm, vận động và giám sát dịch vụ liên ngành. Cuốn Social Work Practice của Hiệp hội CTXH Thế giới (IFSW, 1995) định nghĩa QLTH là sự điều phối dịch vụ. Robert Lee Barker (1999) trong Từ điển Công tác xã hội xem QLTH là tiến trình đại diện thân chủ kết nối dịch vụ. Hiệp hội Quản lý trường hợp Mỹ (CMSA, 2013) khái quát các vai trò đánh giá, lập kế hoạch, chuyển tuyến. Cohn và DeGraff (1982) nghiên cứu QLTH trong bảo vệ trẻ em bị xâm hại. Aldine De Gruyter (2002) hệ thống hóa quy trình QLTH gồm 6 bước.
- Về ứng dụng cho các đối tượng đặc thù: Kanter (1996) nghiên cứu QLTH đối với bệnh nhân tâm thần dựa trên khả năng phục hồi; Cơ quan Chăm sóc Sức khỏe Cộng đồng Mỹ (2012) nghiên cứu QLTH toàn diện cho trẻ em có vấn đề tâm thần nghiêm trọng; Chamberlain và Rapp phân tích QLTH với người nghiện chất kích thích; Nancy Summers (2009) nghiên cứu QLTH với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt; Sullivan (1994) nghiên cứu QLTH trong lĩnh vực lão khoa; các nghiên cứu tư pháp hình sự chỉ ra vai trò của QLTH đối với người phạm tội tái hòa nhập cộng đồng.
- Về QLTH đối với người khuyết tật: Moxley (1992, 2011) nghiên cứu chính sách khuyết tật, thực hành CTXH và kỹ năng tham vấn phục hồi chức năng; Urban, Lindqvist và Sandlund (2009) nghiên cứu QLTH với NKT tâm thần ở Thụy Điển; Báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 2011) nhấn mạnh sự điều phối mạng lưới dịch vụ cho NKT; Payne (1997) phân tích các lý thuyết nền tảng; James & Shireman (2010) nghiên cứu tư vấn sống độc lập cho NKT vận động và phát triển.
- Về mô hình thực hành QLTH: Huber (2002) phân loại 6 mô hình (kết nối, trị liệu, nhóm liên ngành, toàn diện, sức mạnh cá nhân, phục hồi chức năng); Nelson (2007) nghiên cứu mô hình QLTH chuyên sâu; Cruz (2001) đề xuất mô hình điều trị dứt điểm tại cộng đồng; Hursh (2006) xây dựng mô hình hướng nghiệp; Arnold (2007) phân tích 6 nguyên tắc của mô hình QLTH dựa trên điểm mạnh.
- Về nhiệm vụ đánh giá nhu cầu: Meyer xác định 5 bước của tiến trình đánh giá; Allen-Meares và Law (1993) phát triển hệ sinh thái đánh giá 3 chiều với 6 nguyên tắc; Lum (1999) phân tích khung đánh giá tâm lý - xã hội, văn hóa và tinh thần; John Tropman (1995) nhấn mạnh đánh giá nguồn lực cộng đồng.
Các nghiên cứu trong nước về quản lý trường hợp và người khuyết tật:
- Về QLTH: Nguyễn Hồi Loan (2013) nghiên cứu QLTH với người sử dụng ma túy; Phạm Xuân Thắng phân tích mô hình can thiệp trẻ em lang thang; Lê Chí An, Đỗ Văn Bình, Nguyễn Hữu Tâm, Bùi Thị Xuân Mai, Mai Xuân Thuấn (2010) nghiên cứu quản lý ca với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.
- Về CTXH và nhu cầu của NKT: Nguyễn Thị Kim Hoa (chủ biên, 2014) hệ thống hóa lý luận CTXH với NKT và kỹ năng đánh giá nhu cầu; Phạm Đình Hùng (2000) khảo sát nhu cầu phục hồi chức năng của trẻ khuyết tật tại Lương Sơn, Hòa Bình; Nguyễn Thị Anh (2002) nghiên cứu thực trạng phục hồi chức năng cho trẻ tàn tật tại Khoái Châu, Hưng Yên; Phạm Dũng (2003), Nguyễn Anh Tuấn (2007), Võ Ngọc Dũng (2010) phân tích các yếu tố kinh tế, trình độ học vấn và mối quan hệ gia đình tác động đến thực hành phục hồi chức năng cho NKT.
Khoảng trống nghiên cứu được lựa chọn giải quyết:
Các công trình tại Việt Nam chủ yếu tiếp cận QLTH ở mức độ tổng quan lý thuyết hoặc áp dụng cho đối tượng trẻ em, người nghiện chất; chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện và có hệ thống về việc thực hiện các nhiệm vụ QLTH của đội ngũ cán bộ cơ sở đối với đối tượng NKT tại các địa phương đang thí điểm triển khai Thông tư 01/2015/TT-BLĐTBXH. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này thông qua việc phân tích thực trạng thực hiện 5 nhóm nhiệm vụ QLTH tại thành phố Đà Nẵng, kiểm định các yếu tố ảnh hưởng và thực nghiệm biện pháp can thiệp nâng cao năng lực cho CBQLTH.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm chính sách của Đảng, Nhà nước về an sinh xã hội. Luận án vận dụng 3 lý thuyết CTXH chính (theo Payne, 1997):
- Lý thuyết trao quyền (Empowerment Theory): Nhấn mạnh việc nhìn nhận NKT là chủ thể tự quyết định cuộc sống của mình, mối quan hệ giữa CBQLTH và NKT là bình đẳng, không phân cấp.
- Lý thuyết khủng hoảng (Crisis Theory): Định hướng các biện pháp can thiệp hỗ trợ NKT vượt qua các cú sốc tâm lý, khủng hoảng thể chất và xã hội.
- Lý thuyết hệ thống (Systems Theory): Định vị CBQLTH ở vị trí trung gian điều phối các mối tương tác giữa cá nhân NKT với hệ thống gia đình, y tế, giáo dục, việc làm và cộng đồng.
- Khung nguyên tắc: Kế thừa các nguyên tắc từ Công ước Quốc tế về Quyền của Người khuyết tật của Liên Hợp Quốc (tôn trọng phẩm giá, tự do lựa chọn, không phân biệt đối xử, bình đẳng cơ hội, tiếp cận và hòa nhập).
- Mô hình thực hành: Tiếp cận theo mô hình QLTH dựa trên điểm mạnh (Arnold, 2007) và mô hình QLTH dựa vào cộng đồng.
Về phương pháp nghiên cứu thực tế, luận án kết hợp các phương pháp định tính, định lượng và thực nghiệm:
- Phương pháp phân tích văn bản, tài liệu: Phân tích, tổng hợp hệ thống hóa các văn bản pháp luật, chính sách, tài liệu lý thuyết và công trình nghiên cứu liên quan.
- Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến các chuyên gia trong lĩnh vực y tế, lao động, giáo dục về quy trình, kỹ thuật và nhiệm vụ QLTH.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Khảo sát 167 CBQLTH tại các xã, phường và trung tâm CTXH ở Đà Nẵng. Thang đo tự đánh giá gồm 5 mức độ (từ 1: Không thực hiện / Yếu kém đến 5: Rất đầy đủ, chính xác, hiệu quả) theo 3 tiêu chí: Đầy đủ, Chính xác, Hiệu quả. Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS phiên bản 21.0 / 22.0. Phân tích độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach's Alpha:
| Thang đo nhiệm vụ QLTH cơ bản |
Hệ số Cronbach's Alpha |
| 1. Thu thập thông tin |
0,621 |
| 2. Đánh giá nhu cầu |
0,744 |
| 3. Lập kế hoạch trợ giúp |
0,947 |
| 4. Thực hiện kế hoạch |
0,708 |
| 5. Theo dõi, đánh giá và kết thúc QLTH |
0,752 |
- Phương pháp phỏng vấn sâu (PVS) và thảo luận nhóm (TLN): Thu thập dữ liệu định tính từ CBQLTH, 14 gia đình/người chăm sóc và 8 NKT nhằm làm rõ nguyên nhân của thực trạng.
- Phương pháp thực nghiệm: Thực nghiệm biện pháp tập huấn nâng cao kỹ năng (đánh giá nhu cầu, huy động nguồn lực, chuyển tuyến/kết nối) và nghiên cứu trường hợp trên 30 CBQLTH tại quận Hải Châu, xử lý kiểm định thống kê so sánh trước và sau thực nghiệm.
Đặc điểm mẫu khảo sát định lượng 167 CBQLTH:
- Giới tính: Nam chiếm 56,9% (95 người), Nữ chiếm 43,1% (72 người).
- Trình độ chuyên môn: Đại học chiếm 51,9% (hoặc 51,5% theo mẫu 86 người), Cao đẳng chiếm 26,3% (44 người).
- Thâm niên công tác: Trên 10 năm chiếm 21,0% (35 người).
- Chuyên môn đào tạo: Giáo dục chiếm 27,7% (43 người), Công tác xã hội chiếm 20,9% (34 người), Ngành khác chiếm 23,9% (40 người).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về quản lý trường hợp đối với người khuyết tật
Chương 1 hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam về lý luận và mô hình thực hành QLTH. Tác giả phân tích các hướng nghiên cứu QLTH đối với các nhóm đối tượng yếu thế (bệnh nhân tâm thần, người lạm dụng chất kích thích, trẻ em, người cao tuổi, người phạm tội tái hòa nhập) và các dạng khuyết tật cụ thể. Chương này xác định các mô hình QLTH phổ biến (mô hình kết nối, can thiệp chuyên sâu, điều trị dứt điểm, hướng nghiệp, dựa trên điểm mạnh) và làm rõ nhiệm vụ đánh giá nhu cầu đa chiều trong môi trường sinh thái. Đánh giá tổng quan chỉ ra rằng các nghiên cứu trong nước còn thiếu vắng những công trình đánh giá thực nghiệm việc thực hiện các nhiệm vụ QLTH đối với NKT ở cấp độ địa phương, khẳng định sự cần thiết của đề tài.
Chương 2: Cơ sở lý luận về quản lý trường hợp đối với người khuyết tật
Chương 2 làm rõ các khái niệm công cụ của luận án:
- Khái niệm NKT theo Khoản 1, Điều 2, Luật Người khuyết tật Việt Nam 2010.
- Phân loại mức độ khuyết tật theo Nghị định số 28/2012/NĐ-CP gồm 3 mức: đặc biệt nặng, nặng, nhẹ.
- Phân loại 6 dạng tật theo Nghị định 28/2012/NĐ-CP gồm: khuyết tật vận động; khuyết tật nghe, nói; khuyết tật nhìn; khuyết tật trí tuệ; khuyết tật thần kinh, tâm thần; khuyết tật khác.
- Phân tích các rào cản và khó khăn của NKT: học tập, việc làm (số liệu trích dẫn từ Bộ Lao động - Thương binh & Xã hội: 41% NKT vận động chỉ biết viết, 19,5% học hết cấp một, 2,75% có trình độ trung học chuyên nghiệp, dưới 0,1% có bằng đại học/cao đẳng, 3% được đào tạo nghề, dưới 4% có việc làm ổn định); khó khăn trong hôn nhân - gia đình; khó khăn tâm lý (mặc cảm ngoại hình BDD, ám ảnh sợ xã hội); sự kỳ thị và phân biệt đối xử (trích dẫn khảo sát của Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội với 8.068 hộ gia đình tại 49 xã/phường thuộc 4 tỉnh, trong đó 4.826 hộ có NKT: 91,6% thất nghiệp do khuyết tật, 98% coi NKT là đáng thương, 40% cho là có thói quen ỷ lại, 76% đề nghị đưa vào trung tâm, 21% cho là phải trả giá cho kiếp trước, 17% coi là vận đen; trích dẫn nhận định của Mạnh Dương, 2008); khó khăn trong tự vươn lên hòa nhập cộng đồng.
- Hệ thống hóa 5 nhiệm vụ cơ bản của CBQLTH đối với NKT:
- Thu thập thông tin: Thông tin cá nhân, nhân khẩu, hoàn cảnh gia đình, tình trạng thể chất - tinh thần, dạng tật, mức độ khuyết tật, khả năng sinh hoạt, kinh tế hộ gia đình, các chính sách đang thụ hưởng.
- Đánh giá nhu cầu: Sinh kế, chăm sóc y tế, giáo dục - học nghề - việc làm, mối quan hệ xã hội, kỹ năng sống, tâm lý - tình cảm, hòa nhập cộng đồng.
- Xây dựng kế hoạch trợ giúp: Xác định mục tiêu, các hoạt động ưu tiên, khung thời gian, nguồn lực cần thiết, phân công trách nhiệm cá nhân/gia đình/tổ chức và các đơn vị cung ứng dịch vụ.
- Thực hiện kế hoạch trợ giúp: Tư vấn, giới thiệu tiếp cận dịch vụ y tế, việc làm, giáo dục, xã hội; chuyển tuyến, kết nối nguồn lực, hỗ trợ thụ hưởng chính sách; theo dõi ghi chép tiến độ định kỳ (tháng, quý, 6 tháng, năm) và đề xuất điều chỉnh kế hoạch.
- Theo dõi, đánh giá và kết thúc quản lý trường hợp: Lượng giá kết quả can thiệp, mức độ đáp ứng nhu cầu, mức độ sống độc lập, tính phù hợp của dịch vụ và thực hiện quy trình đóng hồ sơ ca.
Chương 3: Thực trạng nhiệm vụ quản lý trường hợp người khuyết tật tại thành phố Đà Nẵng
Chương 3 trình bày các kết quả khảo sát thực tiễn tại thành phố Đà Nẵng dựa trên dữ liệu thu thập từ 167 CBQLTH và các phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm:
- Mức độ thực hiện 5 nhóm nhiệm vụ QLTH: Phân tích định lượng qua điểm trung bình (ĐTB) phản ánh bức tranh thực tế về năng lực và mức độ thực hiện của cán bộ tại 56 xã, phường:
- Nhiệm vụ thu thập thông tin và đánh giá nhu cầu bước đầu được thực hiện tương đối đầy đủ nhưng còn mang tính hành chính, chủ yếu thu thập thông tin cơ bản và xác định nhu cầu trợ cấp vật chất, y tế mà chưa đi sâu vào đánh giá tâm lý, quan hệ xã hội và nguồn lực nội tại của NKT.
- Nhiệm vụ xây dựng kế hoạch và thực hiện kế hoạch can thiệp: Kế hoạch trợ giúp còn thiếu tính cá biệt hóa; việc huy động các nguồn lực ngoài ngân sách và kết nối liên ngành giữa Lao động - Y tế - Giáo dục còn rời rạc.
- Nhiệm vụ theo dõi, lượng giá và kết thúc trường hợp: Đây là khâu yếu nhất trong tiến trình; nhiều hồ sơ ca không được lượng giá định kỳ hoặc không tiến hành thủ tục kết thúc ca theo đúng chuẩn kỹ thuật CTXH.
- Các yếu tố tác động đến nhiệm vụ QLTH:
- Kiến thức, kỹ năng, thái độ của CBQLTH: Tỷ lệ cán bộ có chuyên môn đúng ngành CTXH còn thấp (20,9%), phần lớn được đào tạo từ ngành Giáo dục (27,7%) hoặc ngành khác (23,9%), dẫn đến sự thiếu hụt các kỹ năng chuyên sâu như tham vấn, đánh giá sinh thái và kết nối chuyển tuyến.
- Chế độ, chính sách đối với NKT và CBQLTH: Chế độ phụ cấp, định biên và điều kiện làm việc cho cán bộ phụ trách QLTH tại xã, phường còn hạn chế, chủ yếu là kiêm nhiệm nhiều đầu việc.
- Nguồn lực và dịch vụ trợ giúp tại địa phương: Mạng lưới dịch vụ CTXH chuyên nghiệp, các cơ sở phục hồi chức năng và dịch vụ hướng nghiệp, tạo việc làm cho NKT tại cộng đồng chưa đáp ứng đầy đủ so với nhu cầu thực tế.
Chương 4: Thực nghiệm các biện pháp tăng cường hiệu quả công tác thực hiện nhiệm vụ quản lý trường hợp đối với người khuyết tật
Chương 4 trình bày tiến trình và kết quả thực nghiệm can thiệp:
- Thiết kế thực nghiệm: Lựa chọn mẫu 30 CBQLTH tại quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Tiến hành can thiệp thông qua chương trình tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng QLTH chuyên sâu và hướng dẫn thực hành quản lý ca trực tiếp trên các trường hợp NKT cụ thể.
- Kết quả đánh giá kỹ năng trước và sau thực nghiệm: Kiểm định so sánh giá trị trung bình cho thấy sự chuyển biến rõ rệt về kỹ năng của CBQLTH ở cả 3 nhóm kỹ năng trọng tâm:
- Kỹ năng đánh giá nhu cầu toàn diện của NKT.
- Kỹ năng huy động nguồn lực và vận động cộng đồng.
- Kỹ năng chuyển tuyến, kết nối các dịch vụ hỗ trợ.
- Kết quả thực hành trên ca thực tế: Các hồ sơ quản lý trường hợp do 30 CBQLTH thực hiện sau tập huấn đạt yêu cầu kỹ thuật tốt hơn về việc lập kế hoạch can thiệp cá nhân, ghi chép tiến độ và theo dõi lượng giá mức độ hòa nhập của NKT.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận:
- Hệ thống hóa và làm rõ quy trình QLTH đối với NKT trong bối cảnh Việt Nam, xác lập chi tiết 5 nhóm nhiệm vụ của CBQLTH tương ứng với từng bước trong tiến trình can thiệp (thu thập thông tin, đánh giá nhu cầu, lập kế hoạch, thực hiện kế hoạch, theo dõi/lượng giá/kết thúc).
- Bổ sung, chuẩn hóa hệ thống tiêu chí đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ của CBQLTH trên 3 khía cạnh: Đầy đủ, Chính xác, Hiệu quả; đồng thời xác định các yêu cầu chuẩn mực về kiến thức, kỹ năng và thái độ của nhân viên QLTH người khuyết tật.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn:
- Cung cấp bức tranh thực trạng toàn diện và có hệ số tin cậy khoa học về việc triển khai QLTH đối với NKT tại thành phố Đà Nẵng – một trong ba địa phương đi đầu triển khai Thông tư 01/2015/TT-BLĐTBXH.
- Chỉ ra các điểm nghẽn thực tế về cơ chế phối hợp liên ngành, kỹ năng chuyên môn của đội ngũ cán bộ kiêm nhiệm và năng lực đáp ứng của hệ thống dịch vụ trợ giúp tại địa phương.
- Chứng minh tính khả thi và hiệu quả của mô hình tập huấn nâng cao kỹ năng kết hợp hướng dẫn thực hành ca thực tế qua kiểm định can thiệp thực nghiệm trên 30 CBQLTH tại quận Hải Châu.
- Đề xuất các khuyến nghị cụ thể cho Sở Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Đà Nẵng cũng như các cơ quan quản lý an sinh xã hội nhằm hoàn thiện quy trình QLTH, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và xây dựng cơ chế phối hợp dịch vụ hỗ trợ NKT tại cộng đồng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Phạm vi khảo sát thực trạng mới chỉ bao quát đội ngũ cán bộ quản lý trường hợp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, chưa mở rộng so sánh liên tỉnh với hai địa phương cùng triển khai thí điểm là Phú Thọ và Đồng Nai.
- Quy mô thực nghiệm can thiệp giới hạn trong phạm vi 30 cán bộ tại một địa bàn quận (quận Hải Châu), thời gian theo dõi sau thực nghiệm tập trung vào việc cải thiện kỹ năng trước mắt.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng nghiên cứu đánh giá mô hình QLTH đối với NKT trên phạm vi nhiều tỉnh, thành phố đại diện cho các vùng miền kinh tế - xã hội khác nhau.
- Nghiên cứu sâu về các mô hình QLTH chuyên biệt cho từng dạng tật đặc thù (khuyết tật trí tuệ, khuyết tật tâm thần, khuyết tật vận động) và xây dựng bộ công cụ lượng giá đầu ra dài hạn đối với khả năng sống độc lập của NKT.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị ứng dụng thực tiễn và tham khảo học thuật:
- Đối với nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý an sinh: Cung cấp luận cứ thực tiễn từ mô hình Đà Nẵng để sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các văn bản hướng dẫn quy trình QLTH người khuyết tật cấp quốc gia.
- Đối với cơ sở đào tạo và nghiên cứu sinh, giảng viên ngành CTXH: Cung cấp hệ thống lý luận, thang đo đánh giá nhiệm vụ QLTH đã được kiểm định độ tin cậy Cronbach's Alpha và tài liệu giảng dạy về phương pháp QLTH đối với NKT.
- Đối với cán bộ CTXH và nhân viên xã hội tại cơ sở: Hướng dẫn quy trình 5 bước thực hành nhiệm vụ quản lý ca và các kỹ năng thu thập thông tin, đánh giá nhu cầu, kết nối chuyển tuyến dịch vụ.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án nghiên cứu mô hình quản lý trường hợp đối với người khuyết tật dựa trên những căn cứ pháp lý và thực tiễn nào tại Việt Nam?
Luận án căn cứ trên Luật Người khuyết tật năm 2010, Nghị định số 28/2012/NĐ-CP và trực tiếp là Thông tư số 01/2015/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn về quản lý trường hợp người khuyết tật. Về thực tiễn, nghiên cứu xuất phát từ mô hình mạng lưới QLTH được thành lập từ năm 2014 tại 56 xã/phường của thành phố Đà Nẵng với gần 200 cán bộ liên ngành và hơn 1.680 hồ sơ NKT được quản lý.
2. Khách thể và dung lượng mẫu khảo sát trong nghiên cứu được phân bổ như thế nào?
Nghiên cứu khảo sát định lượng chính thức trên 167 cán bộ quản lý trường hợp tại xã, phường và trung tâm CTXH trên toàn địa bàn Đà Nẵng. Mẫu định tính bổ trợ gồm 14 gia đình/người chăm sóc và 8 người khuyết tật. Mẫu thực nghiệm nâng cao năng lực gồm 30 CBQLTH tại quận Hải Châu.
3. Năm nhóm nhiệm vụ cơ bản của cán bộ quản lý trường hợp đối với người khuyết tật được xác định trong luận án gồm những gì?
Gồm: (1) Thu thập thông tin; (2) Đánh giá nhu cầu; (3) Xây dựng kế hoạch trợ giúp; (4) Thực hiện kế hoạch trợ giúp; (5) Theo dõi, đánh giá và kết thúc quản lý trường hợp.
4. Độ tin cậy của các thang đo nhiệm vụ quản lý trường hợp trong bảng hỏi đạt kết quả ra sao qua kiểm định Cronbach's Alpha?
Cả 5 thang đo đều đạt độ tin cậy với hệ số Cronbach's Alpha cụ thể: Thu thập thông tin (0,621); Đánh giá nhu cầu (0,744); Lập kế hoạch trợ giúp (0,947); Thực hiện kế hoạch (0,708); Theo dõi, đánh giá và kết thúc QLTH (0,752).
5. Kết quả thực nghiệm can thiệp trên 30 cán bộ tại quận Hải Châu mang lại chuyển biến gì?
Kiểm định so sánh trước và sau thực nghiệm cho thấy điểm trung bình kỹ năng của 30 cán bộ tăng lên rõ rệt ở cả 3 nhóm kỹ năng: đánh giá nhu cầu toàn diện, huy động nguồn lực và chuyển tuyến/kết nối dịch vụ, giúp nâng cao chất lượng lập hồ sơ và can thiệp trên các ca thực tế.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Đỗ Nghiêm Thanh Phương đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý trường hợp đối với người khuyết tật và phân tích thực trạng thực hiện 5 nhóm nhiệm vụ QLTH của 167 cán bộ cơ sở tại thành phố Đà Nẵng. Kết quả nghiên cứu làm rõ các rào cản về cơ cấu chuyên môn đào tạo, cơ chế phối hợp liên ngành và năng lực cung cấp dịch vụ an sinh tại địa phương. Bằng việc kiểm định thành công chương trình thực nghiệm trên 30 cán bộ tại quận Hải Châu, công trình đã khẳng định tính khả thi của các biện pháp nâng cao kỹ năng thực hành, cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện quy trình quản lý trường hợp đối với người khuyết tật tại Việt Nam.