Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý tín dụng tại Ngân hàng thương mại 7 - Chương 2: Thực trang công tác quản lý tín dụng tại Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng(VPBank) - Chi nhánh Thanh Hóa. - Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý tín dụng tại Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) - chi nhánh Thanh Hóa. NỘI DUNG NGHIÊN cứu CH Ư Ơ NG 1: CO SỞ LÝ LUẬN VÈ QUẢN LÝ TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TH Ư Ơ NG MẠI 1.1 C ơ s ờ lý thuyết về tín dụng và quản lý tín dụng tại Ngân hàng thirong mại 1.1 Khái niệm Tín dụng 1.1 Khái niệm Theo mục 10, điều 20, Luật các TCTD sửa đổi, bổ sung (2010), “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. Như vậy, tín dụng là hình thức phản ánh quan hệ vay và trả nợ giữa một bên là các ngân hàng và một bên là các khách hàng.
Nói cách khác, tín dụng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng là các cá nhân, doanh nghiệp trong một thời gian nhât định với một khoản chi phí nhất định. Tín dụng chứa đựng ba nội dung: - Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu cho người sử dụng. - Sự chuyển nhượng này có thời hạn, mang tính tạm thời. - Sự chuyển nhượng này có kèm theo chi phí.2 Đặc điếm của tín dụng - Tín dụng ngân hàng thực hiện cho vay dưới hình thức tiên tệ: cho vay băng tiền tệ là loại hình tín dụng phổ biến, linh hoạt và đáp ứng mọi đôi tượng trong nên kinh tế quốc dân.
- Tín dụng ngân hàng cho vay chủ yếu bằng vôn đi vay của các thành phân trong xã hội chứ không phải hoàn toàn là vốn thuộc sở hữu của chính mình như tín dụng nặng lãi hay tín dụng thương mại. 9 - Quá trình vận động và phát triển của tín dụng ngân hàng độc lập tương đối với sự vận động và phát triển của quá trình tái sản xuất xã hội. Có những trường hợp mà nhu cầu tín dụng ngân hàng gia tăng nhưng sản xuât và lưu thông hàng hoá không tăng, nhất là trong thời kỳ kinh tế khủng hoảng, sản xuất và lưu thông hàng hoá bị co hẹp nhưng nhu cầu tín dụng vẫn gia tăng để chống tình trạng phá sản. Ngược lại trong thời kỳ kinh tế hưng thịnh, các doanh nghiệp mở mang sản xuất, hàng hoá lưu chuyển tăng mạnh nhưng tín dụng ngân hàng lại không đáp ứng kịp.
Đây là một hiện tượng rất bình thường của nền kinh tế. - Hơn nữa tín dụng ngân hàng còn có một số ưu điểm nôi bật so với các hình thức khác là: Tín dụng ngân hàng có thể thoả mãn một cách tôi đa nhu câu vê vôn của cac tác nhân và thể nhân khác trong nền kinh tế vì nó có thể huy động nguồn vốn bằng tiền nhàn rỗi trong xã hội dưới nhiều hình thức và khôi lượng lớn. Tín dụng ngân hàng có thời hạn cho vay phong phú, có thể cho vay ngắn hạn trung hạn và dài hạn do ngân hàng có thể điều chỉnh giữa các nguồn vốn với nhau để đáp ứng nhu cầu về thời hạn vay. Tín dụng ngân hàng có phạm vi lớn vì nguôn vôn băng tiên là thích họp VỚI mọi đối tượng trong nền kinh tế, do đó nó có thể cho nhiêu đôi tượng vay.3 P h â n lo ạ i tín d ụ n g Có rất nhiều cách phân loại tín dụng ngân hàng dựa vào các căn cứ khác nhau, tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu: - Căn cứ theo mục đích sử dụng vốn vay: • Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hoá: là loại tín dụng được cung cấp cho các doanh nghiệp để họ tiến hành sản xuât và kinh doanh.
Trong tín dụng sản xuát và lưu thông hàng hóa, còn được phân chia thành các mục đích: + Cho vay đầu tư dự án + Cho vay vốn lưu động + Cho vay đầu tư bất động sản 10 + Cho vay đầu tư chứng khoán + Cho vay kinh doanh xuất nhập khẩu. • Tín dụng tiêu dùng: là loại tín dụng được cấp phát cho cá nhân để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng. Loại tín dụng này thường được dùng để mua sắm nhà cửa, xe cộ, các thiết bị gia đình. Tín dụng tiêu dùng ngày càng có xu hướng tăng lên.
- Căn cứ theo thời hạn cho vay: + Cho vay ngắn hạn: là loại cho vay có thời hạn dưới một năm. Mục đích của loại cho vay này thường là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản lưu động của doanh nghiệp hay cho vay phục vụ nhu cầu sinh hoạt tiêu dùng của cá nhân + Cho vay trung hạn: là loại cho vay có thời hạn từ 1 đên 5 năm. Mục đích của loại cho vay này thường là nhằm tài trợ cho việc đâu tư vào tài sản cô định, cải tiến đổi mới kỹ thuật, mở rộng và xây dựng các công trình nhỏ có thời hạn thu hồi vốn nhanh. + Cho vay dài hạn: là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm.
Mục đích của loại cho vay này thường là nhằm tài trợ cho việc đâu tư vào các dự án đâu tư. - Căn cứ vào bảo đảm của tín dụng: + Cho vay không bảo đảm: là loại cho vay không có tài sản thế châp, câm cô hoặc bảo lãnh của người khác mà chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng vay vốn để quyết định cho vay. + Cho vay có bảo đảm: là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm cho tiên vay như thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba. - Căn cứ vào phương thức cho vay: + Cho vay theo hạn mức: là hình thức cấp tín dụng của NHTM mà theo đó, doanh nghiệp chỉ lập hồ sơ 1 lần cho nhiều khoản vay, ngân hàng câp cho khách hàng một hạn mức, chỉ giới hạn dư nợ, không giới hạn doanh số.
Cho vay theo hạn mức tín dụng được áp dụng đối với doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn thường xuyên và vòng quay vốn lớn hơn 1. + Cho vay từng lần: hay còn gọi là vay theo món, là hình thức vay, theo đó doanh nghiệp sẽ phải làm hồ sơ vay vốn cho từng lân vay với lãi suât, thời hạn trả 11 tiền và số tiền vay xác định. Cho vay từng lần chỉ áp dụng cho các khách hàng có nhu cầu vốn không thường xuyên, hoặc vay có tính chất thời vụ. + Cho vay theo hạn mức tín dung: Áp dụng trong các trường hợp khách hàng có nhu cần bổ dung vốn lưu động thường xuyên, có mục đích sử dụng vốn rõ ràng và có uy tín với NH.
Khi họp đồng tín dụng theo hạn mức có hiệu lực, KH cần rút vốn sẽ không cần phải ký thêm hợp đồng tín dụng mà chỉ cần lập giấy nhận nợ kèm bảng kê và bản sao chứng từ tài liệu chứng minh mục đích sử dụng tiền vay. + Cho vay theo dự án đầu từ: NH cho KH vay vốn để thực hiên các dự án đầu tư, phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tư phục vụ đời sông. + Cho vay họp đồng (đồng tài trợ): Một nhóm tổ chức tín dụng cùng cho vay đổi với một dự án vay vốn hoặc phương án vay vôn của KH; trong đó, có một tô chức tín dụng làm đầu mối, phối hợp với các tổ chức tín dụng khác đê thực hiện. + Cho vay trả góp: Khi vay vốn, tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và thỏa thuận số lãi vốn vay và phải cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay.
Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: NH cam kết đảm bảo sẵn sàng cho KH vay vốn trong phạm vi hạn mức TD nhất định. NH và KH thỏa thuận thời hạn hiệu lực của hạn mức TD dự phòng, mức phí trả cho hạn mức TD dự phòng. + Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dung: NH châp thuận cho khách hàng được sử dụng số vốn vay trong phạm vi hạn mức tín dụng đẻ thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý của ngân hàng. + Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là việc cho vay mà NH thỏa thuận cho KH chi vượt số tiền có trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng trong phạm vi hạn mức tín dụng.
- Cho thuê tài chính: Là NH bỏ tiền mua tài sản cho khách hàng thuê, dựa trên hợp đồng thuê tài sản được ký kết với điều kiện thoản thuận nhất định. - Chiết khấu thương phiếu: là việc KH được NH ứng trước một sô tiên tương ứng với giá trị của thương phiếu trừ đi phần thu nhập của NH đê sở hữu một 12 thương phiếu (giấy tờ có giá khác) chưa đến hạn thanh toán. - Bảo lãnh: Là việc NHTM cam kết thực hiên các nghĩa vụ tài chính hộ cho khách hàng. Nghiệp vụ này NHTM chưa phải xuất tiền ra song ngân hàng đã cho khách hàng sử dụng uy tín của mình để thu phí.4 Vai trò tín dụng đối vói hoạt động ngân hàng: Trong hoạt động sản xuất kinh doanh mục tiêu hàng đầu của doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế là đối đa hoá lợi nhuận, mục tiêu hàng đầu của ngân hàng.
Một tổ chức kinh doanh tiền tệ cũng không nằm ngoài mục đích đó. Ngân hàng thu được lợi nhuận thông qua các hoạt động dịch vụ, cung câp cho khách hàng như chuyên tiền, thanh toán quốc tế, bảo lãnh. nhưng quan trọng nhất vẫn là hoạt động cho vay (hoạt động tín dụng). Thật vậy, ngân hàng với tư cách là một trung gian tài chính kinh doanh trên nguyên tắc tiền gửi của khách hàng (nghiệp vụ huy động vốn) dưới hình thức tài khoản vãng lai và tài khoản tiền gửi.
Trên cơ sở đó ngân hàng tiến hành các hoạt động cho vay dưới nhiều hình thức khác nhau, tuỳ theo yêu cầu vay của khách hàng. Sự chênh lệch giữa tiền lãi kiếm được thông qua hoạt dộng và tiền lãi phải trả cho các khoản huy động là lợi nhuận thu được. Đây chưa phải là toàn bộ lợi nhuận của ngân hàng, tuy nhiên nghiệp vụ tín dụng là nghiệp vụ chủ yếu của ngân hàng nó chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tổng số lợi nhuận của ngân hàng.