Chương 1: Những vấn đề lý luận và kinh nghiệm về quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh Chương 3: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp tại tỉnh Hà Tĩnh 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM VỀ QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP 1. Một số vấn đề chung về thuế 1. Khái niệm và bản chất của thuế 1. Khái niệm Thuế là một phạm trù kinh tế trong lĩnh vực tài chính được biết đến gần như cùng một lúc với sự ra đời, tồn tại và phát triển của phạm trù Nhà nước.
Theo Mác thì “thuế là cơ sở kinh tế của bộ máy nhà nước, là thủ đoạn đơn giản dể kho bạc thu được tiền hay tài sản của người dân để dùng vào việc chi tiêu của Nhà nước” [27] và theo Angghen thì “để duy trì quyền lực công cộng, cần phải có sự đóng góp của công dân cho Nhà nước, đó là thuế má”[2] Quan niệm về thuế của Mác và Angghen cho thấy hai ông thấy rõ và nhấn mạnh khía cạnh công dụng của thuế khóa. Còn Lênin thì cho rằng “thuế là cái mà Nhà nước thu của dân nhưng không bù lại” và “thuế cấu thành nên phần thu của Chính phủ, nó được lấy ra từ sản phẩm của đất đai và lao động trong nước, xét cho cùng thì thuế được lấy ra từ tư bản hay thu nhập của người chịu thuế”[29]. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế xã hội, khái niệm về thuế cũng được dần hoàn chỉnh hơn. Hiện nay, thuế có thể được hiểu là một biện pháp của chính phủ đánh trên thu nhập của cải và vốn nhận được của cá nhân hay doanh nghiệp, trên việc chi tiêu hàng hóa dịch vụ và trên tài sản hoặc cũng có thể hiểu thuế là một khoản chuyển giao bắt buộc bằng tiền (hoặc chuyển giao bằng hàng hóa, dịch vụ) của các công ty gia đình cho Chính phủ mà trong sự trao đổi đó không phải là tiền phạt mà tòa án tuyên phạt do hành vi vi phạm pháp luật.
9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tại Việt Nam, theo các nhà nghiên cứu tài chính của Việt Nam, trong khái niệm về thuế cần phải nêu được các khía cạnh sau: - Nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi mối quan hệ tiền tệ giữa nhà nước với người nộp thuế. - Mối quan hệ này được nảy sinh một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt, trong đó việc chuyển giao thu nhập có tính bắt buộc theo mệnh lệnh của Nhà nước và được quy định bằng pháp luật đối với mức thu và thời gian thu. Với cách hiểu như trên thì thuế có thể hiểu như sau: Thuế là một khoản thu nhập chuyển giao bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời gian được pháp luật quy định, nhằm phục vụ cho mục tiêu công cộng Từ khái niệm nêu trên, chúng ta có thể nêu ra các đặc điểm cơ bản của thuế là: Thứ nhất: Thuế là khoản đóng góp mang tính bắt buộc Thứ hai: Thuế là khoản đóng góp mang tính chất không hoàn trả trực tiếp. Thứ ba: Thuế luôn gắn với quyền lực nhà nước * Khái niệm thuế thu nhập doanh nghiệp: Thuế TNDN xuất hiện rất sớm trong lịch sử phát triển của thuế.
Hiện nay ở các nước phát triển, thuế TNDN giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo ổn định nguồn thu NSNN và thực hiện phân phối thu nhập. Mức thuế cao hay thấp áp dụng cho các chủ thể thuộc đối tượng nộp thuế TNDN là khác nhau, điều đó phụ thuộc vào quan điểm điều tiết thu nhập và mục tiêu đặt ra trong phân phối thu nhập của từng quốc gia trong từng giai đoạn lịch sử nhất định. Xuất phát từ yêu cầu phải quản lý các hoạt động đầu tư và kinh doanh 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trong từng thời kỳ nhất định, thông qua việc quy định đối tượng nộp thuế, đối tượng chịu thuế, sử dụng thuế suất và ưu đãi thuế TNDN, Nhà nước thực hiện các mục tiêu quản lý kinh tế vĩ mô. Ở Việt Nam, Luật thuế TNDN được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 10/5/1997 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1999 thay cho Luật thuế lợi tức.
Cùng với công cuộc cải cách thuế bước I năm 1990, Luật thuế lợi tức đã được ban hành. Tuy nhiên qua 8 năm thực hiện, Luật thuế lợi tức dần dần bộc lộ nhiều nhược điểm và không còn phù hợp với tình hình kinh tế Việt Nam trong giai đoạn mới: giai đoạn mở rộng quan hệ hợp tác với các nước trong khu vực và trên thế giới. Vì vậy, Luật thuế TNDN đã được ban hành nhằm đảm bảo sự phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế trong giai đoạn mới. Nhƣ vậy, có thể hiểu: Thuế TNDN là một loại thuế trực thu đánh vào lợi nhuận của các doanh nghiệp trong kỳ kinh doanh hay nó là loại thuế tính trên thu nhập của doanh nghiệp sau khi đã trừ đi các khoản chi phí hợp lý, hợp lệ.
Bản chất của thuế Thuế do Quốc hội lập ra dưới hình thức một đạo luật – là hình thức văn bản có tính pháp lý cao nhất do cơ quan quyền lực cao nhất, cơ quan lập pháp đặt ra. Thuế có những thuộc tính tương đối ổn định qua từng giai đoạn phát triển và biểu hiện thành những đặc trưng riêng có của nó, qua đó giúp ta phân biệt thuế với các công cụ khác. Những đặc trưng đó là: Thứ nhất: Thuế là khoản đóng góp mang tính bắt buộc Tính bắt buộc là thuộc tính cơ bản vốn có của thuế để phân biệt giữa thuế với các hình thức động viên tài chính khác của ngân sách nhà nước. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thuế được thu để tạo quỹ Ngân sách nhà nước chi dùng cho việc chung, mọi công dân đủ điều kiện phải đóng thuế.
Việc bỏ ra một khoản tiền để đóng thuế không mang lại lợi ích trực tiếp cho người nộp thuế nhưng họ vẫn phải nộp bởi nguồn thu từ thuế là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách nhà nước, thiếu nguồn thu này Nhà nước không thể tồn tại. Vì vậy, Nhà nước sẽ áp dụng các biện pháp cưỡng chế đối với công dân không thực hiện nghĩa vụ nộp thuế. Thứ hai: Thuế là khoản đóng góp mang tính chất không hoàn trả trực tiếp và tương xứng. Tính chất không hoàn trả trực tiếp của thuế được thể hiện ở chỗ: thuế được hoàn trả gián tiếp cho người nộp thuế thông qua việc cung cấp các dịch vụ công cộng của nhà nước.
Sự không hoàn hảo trả trực tiếp được thể hiện kể cả trước và sau thu thuế. Trước khi thu thuế, nhà nước không hề cung ứng trực tiếp một dịch vụ công cộng nào cho người nộp thuế. Sau khi nộp thuế, nhà nước cũng không có sự bồi hoàn trực tiếp nào cho người nộp thuế Công dân phải đóng thuế khi đủ điều kiện và họ không nhận được bất cứ lợi ích trực tiếp gì từ việc đóng thuế, tuy nhiên có sự hoàn trả gián tiếp thông qua việc Nhà nước sử dụng thuế cho các nhu cầu chung của xã hội. Đặc điểm này của Thuế giúp ta phân biệt với phí và lệ phí, vì phí và lệ phí có sự bù đắp, người đóng phí và lệ phí sẽ nhận được lợi ích trực tiếp từ việc đóng phí và lệ phí.
Thứ ba: Thuế luôn gắn với quyền lực nhà nước Thuế luôn gắn với quyền lực nhà nước, là hai phạm trù không thể tách rời: Nhà nước là chủ thể duy nhất đặt ra các khoản thuế và ngược lại thuế là phương tiện vật chất chủ yếu để duy trì quyền lực nhà nước. Thuế là một công cụ tài chính có tính pháp lý cao, được quyết định bởi quyền lực chính trị của nhà nước và quyền lực ấy được thể hiện bằng pháp luật. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com * Bản chất của thuế thu nhập doanh nghiệp Thứ nhất, thuế TNDN là thuế trực thu, đối tượng nộp thuế TNDN là các doanh nghiệp, các nhà đầu tư thuộc các thành phần kinh tế khác nhau đồng thời cũng là “người” chịu thuế. Thứ hai, thuế TNDN phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp hoặc các nhà đầu tư.
Thuế TNDN được xác định trên cơ sở thu nhập chịu thuế, nên chỉ khi các doanh nghiệp, các nhà đầu tư kinh doanh có lợi nhuận mới phải nộp thuế TNDN. Thứ ba, thuế TNDN là thuế khấu trừ trước thuế thu nhập cá nhân. Thu nhập mà các cá nhân nhận được từ hoạt động đầu tư như: lợi tức cổ phần, lãi tiền gửi ngân hàng, lợi nhuận do góp vốn liên doanh, liên kết. là phần thu nhập được chia sau khi nộp thuế TNDN.
Do vậy, thuế TNDN cũng có thể coi là một biện pháp quản lý thu nhập cá nhân. Các cách phân loại thuế 1. Phân loại theo tính chất chuyển dịch về thuế Bao gồm thuế gián thu và thuế trực thu để phân biệt đối tượng chịu thuế. Thuế gián thu Thuế gián thu là loại thuế mà người trực tiếp nộp thuế không phải là người chịu thuế.
Thuế gián thu là loại thuế được cộng vào giá, là một bộ phận cấu thành trong giá mua hàng hoá, nhằm động viên sự đóng góp của người tiêu dùng. Thực chất người tiêu dùng phải trả khoản thuế đó nhưng lại nộp thông qua nhà kinh doanh, nhà sản xuất, như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu… b. Thuế trực thu Thuế trực thu là loại thuế mà người trực tiếp nộp thuế đồng thời là người chịu thuế. Thuế trực thu trực tiếp động viên thu nhập của người nộp 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thuế như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế chuyển quyền sử dụng đất.
Phân loại theo đối tượng chịu thuế Theo cách phân loại này có thể chia thuế thành: - Thuế giá trị gia tăng: đó là loại thuế đánh vào phần giá trị tăng thêm của các hoạt động kinh doanh. - Thuế tiêu thụ đặc biệt: là loại thuế đánh vào hàng hoá tiêu dùng đặc biệt (thường là các hàng hóa Nhà nước muốn hạn chế tiêu dùng). - Thuế thu nhập: là thuế đánh vào các khoản thu nhập phát sinh (thu nhập cá nhân và thu nhập doanh nghiệp). - Thuế tài sản: là thuế đánh vào các tài sản cá nhân có được.
- Thuế tài nguyên: là thuế đánh vào việc khai thác, sử dụng một số tài sản quốc gia. Quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp 1.