phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 4 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại chi cục Thuế huyện Đông Anh. Chƣơng 4: Giải pháp tăng cƣờng quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Chi cục thuế huyện Đông Anh. 3 z CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu Vấn đề quản lý thuế nói chung và quản lý thuế TNDN nói riêng đã đƣợc rất nhiều nhà khoa học và các nhà quản lý quan tâm nghiên cứu.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả trích dẫn một số công trình nghiên cứu ở phần dƣới đây: - Trần Hồng Lý, 2013. Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Nam Định. Luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh, Đại học Bách khoa Hà Nội. Tác giả đã hệ thống hoá lý luận về công tác quản lý thuế nói chung và công tác quản lý thuế TNDN nói riêng.
Đồng thời tác giả cũng đã đi sâu phân tích thực trạng công tác quản lý thuế mà chủ yếu tập trung phân tích quy trình quản lý thuế đang áp dụng hiện tại mà chủ yếu là mô hình tự khai, tự nộp, trong đó đi sâu phân tích từng công đoạn trong cả quá trình quản lý. Từ đó, rút ra những ƣu điểm, tồn tại và vƣớng mắc cần phải tháo gỡ để đáp ứng yêu cầu quản lý thuế trong giai đoạn mới. Thông qua đánh giá tồn tại, khó khăn. Luận văn đã kiến nghị, đề xuất một số giải pháp vừa mang tính tổng thể, vĩ mô vừa kiến nghị một số giải pháp mang tính chất trƣớc mắt và mang tính địa phƣơng nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế TNDN trên địa bàn Cục Thuế tỉnh Nam Định trong thời gian tới.
- Vƣơng Đình Chinh, 2011. “Quản lý thuế Thu nhập doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An”, Luận văn Thạc sỹ kinh tế, Trƣờng đại học Kinh tế Quốc dân Hà nội. 4 z Tác giả đã hệ thống hóa lý luận về thuế thu nhập doanh nghiệp, từ đó trình bày khái quát về công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp, gồm mục tiêu, nguyên tắc và nội dung quản lý thuế TNDN. Tác giả đã mô tả, phân tích và đánh giá thực trạng công tác quản lý thuế Thu nhập doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An theo các chức năng quản lý thuế hiện hành và đã chỉ ra những hạn chế của công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp trên địa bản tỉnh Nghệ An trong thời gian vừa qua.
Đồng thời tác giả cũng chỉ ra những nguyên nhân cụ thể dẫn đến những hạn chế đã nêu. Từ đó, đƣa ra phƣơng hƣớng và những giải pháp nhằm tăng cƣờng công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An trong thời gian tới. - Trƣơng Quốc Thắng, 2008. “Tăng cường Quản lý thuế Giá trị gia tăng và thuế Thu nhập doanh nghiệp trên địa bàn huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình”, Luận văn Thạc sỹ kinh tế, Trƣờng đại học kinh tế Huế.
Tác giả đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận về Quản lý thuế Giá trị gia tăng (GTGT) và thuế Thu nhập doanh nghiệp (TNDN). Phân tích, đánh giá thực trạng Quản lý thuế GTGT và thuế TNDN tại Chi Cục thuế huyện Quảng Trạch giai đoạn 2005-2007, chỉ ra đƣợc những tồn tại trong công tác Quản lý thuế Giá trị gia tăng (GTGT) và thuế Thu nhập doanh nghiệp (TNDN) trên địa bàn huyện Quảng Trạch. Từ đó tác giả đã đề xuất các giải pháp khả thi, nhằm tăng cƣờng Quản lý thuế GTGT và thuế TNDN góp phần tăng nguồn thu ngân sách của huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình trong thời gian tới. Xét trong mối quan hệ với đề tài, cả 3 đề tài đều nghiên cứu về vấn đề thuế TNDN.
Tuy nhiên, công trình nghiên cứu của các tác giả có phạm vi và mục tiêu nghiên cứu khác nhau. Đối với đề tài của tác giả Trần Hồng Lý, tập trung chủ yếu hoàn thiện công tác quản lý thuế TNDN tại Nam Định; của tác giả Vƣơng Đình Chinh tập trung vào vấn đề quản lý thuế TNDN tại cục thuế 5 z Nghệ An; đối với tác giả Trƣơng Quốc Thắng lại nghiên cứu về thuế GTGT và TNDN trên địa bàn huyện Quảng Trạch, Quảng Bình. Bên cạnh đó, còn có rất nhiều các công trình nghiên cứu khác nhau liên quan đến đề tài quản lý thuế TNDN và thuế TNDN đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh nói riêng. Trong phạm vi của đề tài, tác giả chỉ xin trích dẫn một số công trình nghiên cứu tiêu biểu để xem xét mối liên hệ với đề tài mà tác giả đang nghiên cứu.
Cơ sở lý luận về quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh 1.1 Khái quát về DN NQD 1. Khái niệm “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, đƣợc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh” (Luật doanh nghiệp 2014, điều 4, khoản 7) Trong Luật DN năm 1990 và năm 1999, có quy định về các tổ chức kinh tế tƣ hữu và các tổ chức kinh tế nhà nƣớc. Nhƣng đến lần sửa đổi năm 2005, không còn có sự phân biệt DN nhà nƣớc hay DN tƣ hữu về mặt quản trị DN. Tuy nhiên, để phục vụ mục đích quản lý thuế, DN đƣợc phân chia thành các nhóm căn cứ vào chủ thể sở hữu, bao gồm: DN nhà nƣớc, DN ngoài nhà nƣớc hay DN NQD và DN có vốn đầu tƣ của nƣớc ngoài.
“Doanh nghiệp nhà nƣớc là doanh nghiệp do Nhà nƣớc nắm giữ 100% vốn điều lệ” (Luật doanh nghiệp 2014, điều 4, khoản 8). Từ khái niệm về doanh nghiệp nhà nƣớc có thể đƣa ra khái niệm doanh nghiệp ngoài quốc doanh nhƣ sau: DN NQD là DN có vốn góp của Nhà nƣớc trong DN nhỏ hơn 100% số vốn điều lệ, hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam. DN NQD có các loại hình nhƣ: Công ty Cổ phần, Công ty TNHH, Công ty Hợp danh, DN tƣ nhân và Hợp tác xã. Đặc điểm của DN NQD Thứ nhất: Về mặt sở hữu, đây là điểm làm nên sự khác biệt của các DN NQD.
Phần lớn tài sản của DN NQD là tƣ hữu. Quyền quản lý, điều hành DN không thuộc về nhà nƣớc mà thuộc về chủ sở hữu DN. Trong điều hành DN, các chủ sở hữu đều hƣớng tới mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận. Bởi vậy tình trạng trốn thuế, tránh thuế thƣờng xảy ra nhiều ở các DN NQD.
Thứ hai: Về số lƣợng DN và phạm vi hoạt động. Các DN NQD hoạt động theo Luật Doanh nghiệp. Sự hình thành và phát triển của DN tuân theo nhu cầu, điều kiện của thị trƣờng, không có định mức quy mô hoạt động, đƣợc chọn kinh doanh bất kỳ ngành nghề nào pháp luật không cấm. Do đó, số lƣợng DN NQD rất lớn và phân bổ trên hầu hết các lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh với rất nhiều loại hình.
Với số lƣợng DN lớn và phạm vi hoạt động rộng đây cũng là đặc điểm gây không ít khó khăn cho công tác quản lý. Thứ ba: Trình độ, năng lực quản lý, chuyên môn của bộ máy nhân sự tại DN NQD ngày càng đƣợc nâng cao do có sự đào tạo bài bản. Nhƣng theo mặt bằng chung ta thấy, ở phần lớn các DN NQD trình độ quản lý của cán bộ, năng lực chuyên môn của nhân viên có yếu hơn so với khối DN nhà nƣớc và DN có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài. Năng lực hạch toán kế toán - thuế hạn chế và sự thiếu hiểu biết về pháp luật cũng nhƣ các thủ tục hành chính thuế dễ dẫn đến việc sai sót trong xác định và thực hiện nghĩa vụ thuế.
Thứ tƣ: Về ý thức chấp hành pháp luật, đặc biệt là pháp luật Thuế.Với sự phát triển mạnh của các phƣơng tiện truyền thông, các DN có nhiều nguồn để tiếp cận các văn bản pháp luật. Đồng thời, trong một nền hành chính hiện đại, DN luôn đƣợc cơ quan quản lý hƣớng dẫn khá đầy đủ về cơ chế, chính sách, thủ tục hành chính. Tuy nhiên, cho dù hiểu biết về pháp luật đã đƣợc cải thiện đáng kể thì ý thức tự giác tuân thủ pháp luật của một bộ phận DN còn kém, dẫn đến việc tìm mọi thủ đoạn để trốn, lậu thuế. 7 z Với những đặc điểm trên, khối DN NQD mang lại nhiều khó khăn hơn là thuận lợi trong công tác quản lý thuế.
Vai trò của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh DN NQD có thể kinh doanh trong hầu hết các lĩnh vực kinh tế đƣợc pháp luật cho phép nhƣ sản xuất, chế biến, gia công, thƣơng mại, vận chuyển, du lịch,… trừ một số ngành mà nhà nƣớc giữ độc quyền để đảm bảo quốc phòng, an ninh và ổn định kinh tế vĩ mô, chính trị đất nƣớc. Trên con đƣờng Công nghiệp hóa hiện đại hóa, sự hình thành và phát triển của các DN NQD mang lại những đóng góp to lớn cho sự phát triển chung của nền kinh tế. Theo công bố của Tổng Cục Thống kê, đến hết tháng 12/2016, cả nƣớc có hơn 500.000 doanh nghiệp đang hoạt động. Trong số đó có gần 457.000 doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế ngoài quốc doanh.
Không chỉ có số DN lớn, khu vực kinh tế NQD còn có đóng góp lớn nhất trong GDP với tỷ trọng khoảng 50% trong những năm gần đây. Với quy mô, loại hình DN đa dạng khối DN NQD cũng là nơi tạo ra rất nhiều công ăn việc làm, tạo ra thu nhập cho ngƣời lao động giúp giải quyết vấn đề lao động tại một quốc gia đông dân nhƣ Việt Nam. Cuối năm 2016, tổng số lao động làm việc trong các doanh nghiệp là hơn 11,9 triệu ngƣời, trong đó hơn 62% là lao động của khối NQD. Sự cho phép thành lập các DN thuộc sở hữu tƣ nhân cũng góp phần huy động đƣợc tối đa tiểm lực tài chính cho việc phát triển kinh tế xã hội.
Phần lớn mọi ngƣời đều muốn đƣợc tự tay quản lý, sử dụng nguồn lực của mình hơn là việc giao cho ngƣời khác nắm quyền sử dụng. Việc này tạo điều kiện để những nguồn vốn nhàn rỗi trong dân đƣợc huy động một cách triệt để và hiệu quả.