CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 1. Những vấn đề lý luận về quản lý thuế TNCN 1. Vài nét về thuế TNCN 1. Khái niệm và đặc điểm thuế TNCN Khái niệm thuế thu nhập cá nhân Thuế TNCN là sắc thuế có lịch sử lâu đời và được áp dụng phổ biến ở các quốc gia trên thế giới, mặc dù vậy chính sách thuế TNCN của mỗi quốc gia lại có những điểm đặc thù riêng phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội từng nước.
Theo Từ điển Tiếng Việt do giáo sư Hoàng Phê chủ biên giải thích danh từ thu nhập là “các khoản thu nhập được trong một khoảng thời gian nhất định tính theo tháng năm”, khái niệm này được đưa ra khá chung chung, chưa đề cập đến các Luận văn thạc sĩ Luật Học chi phí, khoản không tính vào thu nhập nhận được cuối cùng. Bên cạnh đó, cũng trong cuốn Từ điển này động từ thu nhập có nghĩa là “nhận được tiền bạc, của cải vật chất từ một hoạt động nào đó” [38, tr.984], định nghĩa này tuy đã chỉ ra rõ hơn nhưng vẫn chưa thực sự bao quát được đầy đủ tất cả các trường hợp vì có những loại thu nhập phát sinh không phải do họ thực hiện “một hoạt động nào đó” mà được người khác biếu, tặng hoặc được thừa kế, trúng thưởng. Những khoản thu nhập này tuy không mang tính chất thường xuyên nhưng cũng có ý nghĩa rất quan trọng.Samuelson - Nhà kinh tế học người Mỹ cho rằng: “Thu nhập là tổng số tiền kiếm được hoặc thu góp được trong một khoảng thời gian nhất định”. Đây là những khoản thu dưới dạng tiền tệ hay hiện vật được tính thành tiền, nó bao gồm cả phần sản xuất để tự tiêu dùng, nhận được từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, từ lao động hoặc không từ lao động, từ quyền sở hữu về tài sản mà có hoặc tiêu dùng các dịch vụ không phải thanh toán [11, tr.
Với cách tiếp cận của hai nhà kinh tế người Anh là R. Simons đưa ra từ đầu thế kỷ XX thì: Thu nhập của một cá nhân được xem là sự gia 8 tăng về sức mua ròng của cá nhân đó trong một giai đoạn nhất định. Nói cách khác, đó là “tổng chi cho tiêu dùng” cộng với “sự gia tăng ròng về mức độ giàu có” của một cá nhân trong một khoảng thời gian nhất định. Ở đây TNCN được gọi là “thu nhập toàn diện” và thường bao quát tất cả các loại hình thu nhập mà một cá nhân nhận được dưới nhiều hình thức khác nhau.
Khái niệm này thể hiện được bản chất của thu nhập, đó là phần giá trị tăng thêm thực tế của từng cá nhân trong một khoảng thời gian nhất định [50]. Từ những nhận định trên có thể thấy rằng, thu nhập của cá nhân có thể phát sinh từ rất nhiều nguồn khác nhau như: kinh doanh, tiền lương, đầu tư, chuyển nhượng, trúng thưởng, nhận quà biếu, nhận thừa kế. Tuy nhiên, không phải tất cả thu nhập từ các nguồn của cá nhân đều là thu nhập tính thuế, thu nhập tính thuế được xác định trên cơ sở thu nhập chịu thuế nhận được sau đó trừ đi những chi phí hợp lý và các khoản được giảm trừ. Ngoài ra, do nguồn phát sinh của TNCN rất đa dạng nên chủ thể nhận được thu nhập cũng vô cùng phong phú bao gồm: cá nhân kinh doanh; người lao động; các nhà đầu tư; người được nhận thừa kế, quà tặng; cá Luận văn thạc sĩ Luật Học nhân trúng thưởng… Theo PGS.
Nguyễn Thị Liên và PGS. Nguyễn Văn Hiệu thì thuế TNCN được hiểu là sắc thuế trực thu đánh vào thu nhập chịu thuế của cá nhân phát sinh trong kỳ tính thuế [16, tr. Trong cuốn Thuế thu nhập cá nhân trên thế giới và định hướng vận dụng ở Việt Nam, tác giả Lê Văn Ái nhận định: Thuế TNCN là khoản thu bắt buộc đánh trên thu nhập chịu thuế của cá nhân trong kỳ tính thuế theo quy định của pháp luật [17, tr. Tác giả Huỳnh Văn Diện cho rằng thuế TNCN là một loại thuế đánh vào thu nhập của cá nhân do Nhà nước ban hành thành luật và được bảo đảm thi hành bằng sức mạnh của Nhà nước” [11, tr.
Theo quan điểm của nhóm tác giả Giáo trình Luật thuế Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội thì thuế thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập thực nhận của các cá nhân trong một năm, từng tháng hoặc từng lần [34, tr. 9 Trong tất cả những quan điểm, nhận định nêu trên, tác giả đồng ý với quan điểm của các nhà khoa học pháp lý đưa ra trong Giáo trình Luật thuế Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội, bởi nó chỉ rõ đặc điểm thuế TNCN là thuế trực thu, đối tượng nộp thuế TNCN là ai, đối tượng phải chịu loại thuế này là gì và trong những kì tính thuế nào. Có thể thấy, nhận định về thuế TNCN này tương đối ngắn gọn, cụ thể nhưng vẫn có sự bao quát và đề cập đầy đủ các nội dung có liên quan. Tóm lại, thuế thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập thực nhận của các cá nhân trong một năm, từng tháng hoặc từng lần.
Đặc điểm thuế thu nhập cá nhân - Thuế TNCN là loại thuế trực thu, vì có đối tượng nộp thuế đồng thời là đối tượng chịu thuế. Tâm lý người dân ít bị tác động đối với khoản thuế mình phải chịu nếu đó là các loại thuế gián thu khác, bởi nó đã được tính sẵn trong giá thanh toán các loại hình sản phẩm, dịch vụ (như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt. Còn thuế trực thu thường tạo ra phản ứng mạnh mẽ trong cộng đồng nếu có sự thay đổi về chính sách thuế suất, phạm vi đối tượng được miễn giảm; bởi thuế TNCN Luận văn thạc sĩ Luật Học được trừ trực tiếp từ thu nhập từ tiền lương, tiền công theo tháng hoặc từng lần phát sinh thu nhập của mỗi cá nhân. Phản ứng như thế nào phụ thuộc vào ý thức của các đối tượng nộp thuế và cơ cấu nền kinh tế.
- Thuế TNCN có diện đánh thuế rất rộng, diện đánh thuế được xác định dựa trên căn cứ nguồn gốc phát sinh của khoản thu nhập và đặc điểm cư trú của cá nhân. Thứ nhất, thu nhập chịu thuế TNCN là toàn bộ các khoản thu nhập của cá nhân thuộc diện đánh thuế phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam, không bao gồm thu nhập miễn thuế. Thứ hai, đối tượng phải kê khai nộp thuế TNCN là toàn bộ những người có thu nhập, bao gồm cả cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú. - Thuế TNCN thường là loại thuế có tính lũy tiến vì nó đóng vai trò trực tiếp đảm bảo công bằng xã hội.
Các quốc gia thường xây dựng một biểu thuế luỹ tiến có nhiều bậc, mỗi bậc ứng với mức thu nhập càng cao thì mức thuế suất biên càng cao. Càng là những người có thu nhập cao thì càng phải đóng góp nhiều hơn so với những người có mức thu nhập thấp. Điều này làm giảm dần mâu thuẫn và áp lực mất ổn định của đa số người nghèo, người có thu nhập thấp. 10 - Thuế TNCN luôn gắn liền với chính sách xã hội của mỗi quốc gia [34, tr.214], là công cụ điều tiết thu nhập dân cư.
Việc điều tiết thu nhập được tiến hành thông qua những quy định của pháp luật về mức thuế suất, các khoản thu nhập chịu thuế, bậc tính thuế. Từ đó, có căn cứ xác định nghĩa vụ nộp thuế của mỗi cá nhân. Các yếu tố cấu thành thuế TNCN Đối tượng nộp thuế TNCN Yếu tố này là cơ sở để xác định rõ cá nhân nào có nghĩa vụ phải kê khai và nộp thuế TNCN theo quy định của pháp luật. Đối tượng nộp thuế TNCN theo quy định là thể nhân hoặc pháp nhân có trách nhiệm nộp thuế TNCN cho Nhà nước.
Nhiều trường hợp người có trách nhiệm nộp thuế chính là người chịu thuế, nhưng cũng có trường hợp NNT không phải là người chịu thuế, ví dụ như trường hợp cá nhân, cơ quan chi trả thu nhập có trách nhiệm khấu trừ và nộp thay cho người chịu thuế khi được ủy quyền. Gắn liền với yếu tố NNT là đặc điểm cư trú. Cá nhân cư trú nộp thuế đối với thu nhập toàn cầu còn cá nhân không cư trú nộp thuế trên thu nhập có nguồn gốc phát sinh tại quốc gia, vùng lãnh thổ sở tại. Luận văn thạc sĩ Luật Học Thu nhập chịu thuế TNCN Thu nhập chịu thuế TNCN là tổng số các khoản thu nhập từ tiền lương, tiền công và các khoản thu nhập chịu thuế khác có tính chất tiền lương, tiền công mà cơ quan chi trả cho cá nhân (bao gồm cả các khoản tiền lương, tiền công nhận được do làm việc tại khu kinh tế).
Không bao gồm: tiền ăn giữa ca, tiền ăn trưa; tiền phụ cấp điện thoại, phụ cấp trang phục; tiền công tác phí; thu nhập từ phần tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ. Các khoản giảm trừ đối với cá nhân cư trú Giảm trừ gia cảnh bao gồm giảm trừ bản thân và giảm trừ người phụ thuộc, là số tiền được trừ vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế đối với thu nhập từ kinh doanh, tiền lương, tiền công của đối tượng nộp thuế là cá nhân cư trú [25, Điều 19]. Giảm trừ đối với các khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo, khuyến học đóng góp vào tổ chức, cơ sở chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người tàn tật, người già không nơi nương tựa; đóng góp vào quỹ từ thiện, quỹ nhân đạo, quỹ khuyến học [36, Điều 20] 11 Giảm trừ các khoản bảo hiểm bắt buộc bao gồm: bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với một số ngành, nghề phải tham gia bảo hiểm bắt buộc. Mức thuế suất TNCN Đây là yếu tố quan trọng nhất của mỗi một sắc thuế, nó phản ánh chính sách điều chỉnh kinh tế - xã hội của Nhà nước, đồng thời cũng là mối quan tâm hàng đầu của mỗi NNT.
Việc xác định thuế suất trong một loại thuế vừa phải hướng đến coi trọng lợi ích quốc gia, vừa cần chú ý đến lợi ích chính đáng của NNT. Thuế TNCN có các loại mức thuế, thuế suất sau đây: - Mức thuế cụ thể (tuyệt đối) được ấn định bằng một mức tuyệt đối dựa trên cơ sở thuế.