Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý thuế đối với cá nhân kinh doanh TMĐT. Chương 2: Thực trạng công tác quản lý thuế đối với cá nhân kinh doanh TMĐT trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa. Chương 3: Một số giải pháp quản lý thuế đối với cá nhân kinh doanh TMĐT trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI CÁ NHÂN KINH DOANH THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 1.
Tổng quan về kinh doanh thương mại điện tử 1. Khái niệm Kinh doanh thương mại điện tử (gọi tắt là Thương mại điện tử) ngày nay đã trở thành xu hướng tất yếu trong nền kinh tế và được biết đến với nhiều tên gọi khác nhau như e-commerce, e-comm hay EC. Thương mại điện tử (TMĐT) được hình thành và hoạt động dựa trên một số công nghệ như chuyển tiền điện tử, quản lý chuỗi dây chuyền cung ứng, tiếp thị Internet, quá trình giao dịch trực tuyến, trao đổi dữ liệu điện tử (EDI), các hệ thống quản lý hàng tồn kho và các hệ thống tự động thu thập dữ liệu. Đối tượng tham gia chính của TMĐT rất đang dạng gồm Chính phủ (G - Goverment), doanh nghiệp (B - Business), khách hàng (C – Customer), nhân viên (E-Employee) với các hình thức như doanh ghiệp (DN) với DN (B2B); DN với Khách hàng (B2C); DN với Nhân viên (B2E); DN với Chính phủ (B2G)… Chính vì sự đa dạng hình thức và đối tượng giao dịch nên TMĐT hiện nay có rất nhiều quan điểm đưa ra về hoạt động TMĐT, trong giới hạn đề tài này tác giả đề cập đến khái niệm của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế OECD và nghị định số 52/2013/NĐ-CP về TMĐT do Chính phủ Việt Nam ban hành như sau: Theo tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế OECD “TMĐT là giao dịch cung cấp hàng hóa, dịch vụ giữa doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân, chính phủ, các cơ quan nhà nước hoặc tổ chức tư nhân được tiến hành thông qua các mạng kết nối qua trung gian máy tính”.
Mặc dù, hàng hóa và dịch vụ được đặt hàng qua mạng, nhưng việc thanh toán và giao hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ có thể được thực hiện trực tuyến hoặc theo phương pháp trực tiếp, truyền thống. 6 TMĐT là việc mua, bán hàng hóa và dịch vụ được tiến hành thông qua internet. Giao dịch TMĐT theo cách tiếp cận này bao gồm các đơn hàng được nhận hoặc đặt qua bất kỳ ứng dụng nào trên nền tảng internet trong các giao dịch tự động, loại trừ các đơn hàng qua điện thoại, fax hay email. Tại Việt Nam, trong nghị định số 52/2013/NĐ-CP về TMĐT do Chính phủ ban hành vào ngày 16/5/2013 và Nghị định số 85/2021/NĐ-CP ngày 25/09/2021 sửa đổi một số điều tại nghị định số 52/2013/NĐ-CP, đã đề cập đến phạm trù kinh doanh TMĐT như sau: “TMĐT là việc tiến hành một phần hoặc toàn bộ quy trình của hoạt động thương mại bằng phương tiện điện tử có kết nối với mạng Internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng mở khác”[11], [85].
Như vậy, có thể hiểu hoạt động kinh doanh TMĐT là các hoạt động thương mại được thực hiện trên nền tảng công nghệ thông tin có kết nối internet, bằng cách áp dụng các phương tiện điện tử nhằm thực hiện trao đổi thông tin, giao dịch thương mại giữa các bên trong quan hệ mua bán. Hoạt động TMĐT ngoài việc cung ứng các hàng hóa, dịch vụ thông thường còn bao gồm việc cung ứng các sản phẩm của công nghệ số như dịch vụ số, sản phẩm số, tài nguyên số. Sự khác biệt giữa thương mại điện tử và thương mại truyền thống Thương mại điện tử hay thương mại truyền thống cũng đều là hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lợi và trong khuôn khổ của phát luật. Tuy nhiên để phân biệt giữa TMĐT với thương mại truyền thống chúng ta có thể căn cứ trên tám đặc điểm sau đây: Một là, hình thức thực hiện hoạt động: Hoạt động thương mại truyền thống chỉ được thực hiện khi có sự gặp gỡ trực tiếp giữa người mua và người bán nhưng hoạt động TMĐT lại được tiến hành thông qua các phương tiện điện tử, người bán và người mua có thể không cần gặp nhau trực tiếp vẫn có thể tiến hành được giao dịch mà trước kia cần có sự gặp gỡ, ký kết hợp đồng trực tiếp.
7 Hai là, phạm vi của hoạt động: Do đặc tính hoạt động trên thị trường ảo nên hoạt động TMĐT có thể được thực hiện trên phạm vi toàn thế giới, ranh giới địa lý bị xoá nhoà. Các tổ chức và cá nhân chỉ cần sử dụng các thiết bị điện tử là có thể tham gia vào các giao dịch TMĐT phục vụ nhu cầu mua, bán hàng hóa, dịch vụ của mình vào bất kỳ thời gian nào trong ngày mà không bị giới hạn như trong thương mại truyền thống. Ba là, đối tượng tham gia hoạt động: Xét về hoạt động thương mại truyền thống đơn thuần chỉ là việc trao đổi giữa người mua và người bán, nhưng trong hoạt động TMĐT phải có ít nhất ba chủ thể tham gia gồm: người mua, người bán và các bên trung gian khác như tổ chức cung cấp dịch vụ mạng, cơ quan chứng thực, tổ chức thanh toán. Các bên trung gian có chức năng truyền tin, lưu giữ các thông tin giao dịch cho các chủ thể trong hoạt động TMĐT, đồng thời đảm bảo xác nhận độ tin cậy của các thông tin trong giao dịch.
Bốn là, thông tin của hoạt động: Trong hoạt động TMĐT, thông tin giao dịch được cung cấp sẵn có trên môi trường điện tử đảm bảo người mua có thể tự do tìm kiếm và lựa chọn sản phẩm thỏa mãn nhu cầu của mình mà không cần gặp nhau trực tiếp với người bán đàm phán và ký kết các hợp đồng thương mại. Ngược lại, trong thương mại truyền thống đòi hỏi các bên phải tiến hành gặp gỡ, đàm phán, thỏa thuận với nhau trước khi hợp đồng được ký kết. Năm là, chi phí đầu tư sản xuất, kinh doanh: Nếu như thương mại truyền thống, để khởi nghiệp người chủ cần thiết lập ngân sách hoạt động, trong đó cần tiêu tốn một lượng vốn khá lớn cho việc mua hoặc thuê mặt bằng, xây dựng cơ sở kinh doanh và mua sắm công cụ, dụng cụ. Ngược lại, đối với TMĐT để chuẩn bị chuẩn cho việc kinh doanh, chủ thể kinh doanh có thể chỉ cần chuẩn bị thiết bị điện tử, mạng internet có tốc độ cao, máy chủ, xây dựng trang web….
Sáu là, sản phẩm trong các giao dịch: Thương mại truyền thống chỉ tiến hành giao dịch với những sản phẩm hữu hình hoặc cung cấp các dịch vụ. Còn trong hoạt động TMĐT ngoài hàng hóa, dịch vụ thông thường, có thể tồn tại giao dịch một thứ hàng hóa “số” mới hay còn gọi là dịch vụ số - đây là những 8 sản phẩm chỉ cung ứng được qua đường internet. Là sản phẩm mà không tồn tại trong các giao dịch thương mại truyền thống. Bảy là, phương thức thanh toán các giao dịch: Quá trình giao dịch trong thương mại truyền thống phần lớn được thanh toán bởi tiền mặt, ngoài ra có thể thanh toán qua ngân hàng hoặc bằng hối phiếu hoặc sec.
Còn đối với TMĐT phương thức thanh toán thường được thực hiện theo hướng không ưu tiên sử dụng tiền mặt mà chủ yếu là thông qua tiền điện tử hoặc các giao dịch ngân hàng điện tử. Tám là, về an toàn bảo mật thương mại: Bảo mật trong TMĐT là vấn đề rất cần được chú trọng khi TMĐT phát triển mạnh mẽ. Sự tấn công của các tin tặc trên thế giới mạng có thể gây rò rỉ thông tin hoặc đánh cắp thông tin giao dịch giữa người mua và người bán gây hậu quả khó lường. Chính vì điều đó song song với việc phát triển TMĐT là sự phòng vệ, an toàn trong an ninh mạng.
Điều này khác xa với việc bảo đảm an ninh trong thương mại truyền thống đơn thuần chỉ là bí mật thông tin giữa người mua và người bán. Các loại hình thương mại điện tử điển hình Có nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại các hình thức cũng như mô hình của TMĐT. Mỗi tiêu chí khác nhau sẽ có các loại hoạt động TMĐT khác nhau. Trong phạm vi đề tài này, tác giả tập trung nghiên cứu đến hai tiêu chí phân loại chủ yếu là theo phương thức thực hiện và theo đối tượng tham gia hoạt động TMĐT.
a) Phân loại theo phương thức thực hiện TMĐT: Các hoạt động TMĐT có thể được thực hiện thông qua nhiều phương tiện điện tử khác, đó có thể là các phương tiện điện tử có kết nối với mạng internet hay là các phương tiện có kết nối với mạng viễn thông di động, hoặc cũng có thể các phương tiện có kết nối với các mạng mở khác. Dựa vào loại phương tiện điện tử được thực hiện, có thể phân hoạt động thương mại điện tử thành các hình thức phổ biến bao gồm: 9 - Thư điện tử (Email): Là phương thức truyền tin phổ biết trong khoảng năm năm trở lại đây. Phương thức này giúp cho doanh nghiệp có gửi thông tin cho nhiều đối tượng khách hàng một cách nhanh chóng và tiết kiệm. Đây được coi như một cách trao đổi thông tin, chứng từ giao dịch giữa người bán và người tiêu dùng.
Trong hoạt động TMĐT việc xác nhận đơn hàng, hoàn tất các thủ tục mua bán hoặc công tác hỗ trợ sau bán hàng đều có thể thực hiện qua thư điện tử. - Website thương mại điện tử: Là Website do các doanh nghiệp, cá nhân tự thiết lập để phục vụ hoạt động bán hàng hóa và cung cấp dịch vụ của mình như là quảng cáo các hình ảnh, video về các hàng hóa giao dịch và bán hàng hóa cho người tiêu dùng. Đây là sự thể hiện của phương thức giao dịch B2C. Thông qua các website bán lẻ người tiêu dùng có thể tự do lựa chọn, so sánh các mặt hàng với các mức giá khác nhau.
Các website bán lẻ phổ biến tại Việt Nam như Shopee, Lazada, Tiki… hay các website nổi tiếng trên thế giới có thể kể đến như www. - Sàn giao dịch điện tử: Là website TMĐT do các tổ chức thiết lập để cung cấp môi trường cho các tổ chức, cá nhân khác tiến hành hoạt động TMĐT. Nó khác với Website TMĐT đã nêu ở trên là được cung ứng và vận hành bởi các tổ chức trung gia qua đó các cá nhân có thể tiến hành các hoạt động TMĐT một cách chuyên nghiệp. Có thể hiểu rằng cùng một website nhiều người dùng có thể trưng bày, quảng cáo, mua bán trên đó mà không phải của duy nhất một cá nhân hay doanh nghiệp nào.
Có hai loại sàn giao dịch điện tử theo mục đích thiết lập là sàn dành cho doanh nghiệp và sàn dành cho mua bán lẻ.