phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1. Tổng quan về hoạt động quản lý thuế hộ kinh doanh. Thực trạng quản lý thuế hộ kinh doanh tại Chi cục Thuế quận Hoàn Kiếm. Giải pháp hoàn thiện quản lý thuế hộ kinh doanh Chi cục Thuế quận Hoàn Kiếm.
6 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ THUẾ HỘ KINH DOANH 1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ CỦA HỘ KINH DOANH TRONG NỀN KINH TẾ 1. Khái niệm, đặc điểm chung về hộ kinh doanh Theo quy định tại Điều 66 Nghị định 78/2015/NĐ-CP ngày 14/9/2015 về đăng ký doanh nghiệp, hộ kinh doanh đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “Hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc một nhóm người gồm các cá nhân là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng dưới mười lao động và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh” Hoạt động sản xuất kinh doanh dựa vào vốn và sức lao động của bản thân và hộ gia đình mình là chính. Quy mô nhỏ lẻ, tản mạn, rời rạc, điều kiện áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến hạn chế.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các hộ kinh doanh phát triển khá nhanh trong cả nƣớc, hoạt động trong mọi ngành nghề nhƣ sản xuất, giao thông vận tải, thƣơng nghiệp, ăn uống, dịch vụ. Hoạt động của hộ kinh doanh mang tính tự chủ cao, tự tìm kiếm nguồn lực, vốn, sức lao động, rất nhạy bén trong kinh doanh, dễ dàng chuyển đổi ngành nghề kinh doanh cho phù hợp với yêu cầu của thị trƣờng và nền kinh tế. Có một tiềm năng to lớn về trí tuệ, sáng kiến, đƣợc phân bổ rộng rãi ở mọi nơi, mọi lúc. Có kinh nghiệm quản lý, tổ chức sản xuất và những bí quyết sản xuất truyền thống đƣợc tích luỹ từ nhiều thế hệ, qua đó cho phép phát huy những ngành nghề truyền thống để tạo ra những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu xã hội và xuất khẩu.
Các đặc điểm chủ yếu của hộ kinh doanh bao gồm: 7 + Thứ nhất, Hộ kinh doanh không có tư cách pháp nhân Hộ kinh doanh do một cá nhân thành lập có bản chất là cá nhân kinh doanh, do đó không thể là pháp nhân. Nó khác với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, bởi công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là một thực thể tách biệt với chủ sở hữu của nó. Trong khi đó hộ kinh doanh không phải là một thực thể tách biệt với cá nhân thành lập nên nó. Mọi tài sản của hộ kinh doanh đều là tài sản của cá nhân tạo lập nó.
Cá nhân tạo lập hộ kinh doanh hƣởng toàn bộ lợi nhuận (sau khi đã thực hiện các nghĩa vụ tài chính và thanh toán theo quy định của pháp luật) và gánh chịu mọi nghĩa vụ. Trƣờng hợp hộ kinh doanh đƣợc tạo lập bởi hộ gia đình, thì hộ kinh doanh có bản chất là hộ gia đình kinh doanh. Do đó hộ kinh doanh cũng không phải là pháp nhân. Hộ kinh doanh đƣợc tạo lập bởi một nhóm ngƣời cũng không có tƣ cách pháp nhân.
+ Thứ hai, Hộ kinh doanh là hình thức kinh doanh với quy mô rất nhỏ Đặc điểm xuất phát từ các quy định của pháp luật Việt Nam căn cứ vào số lƣợng lao động đƣợc sử dụng trong hộ kinh doanh. Căn cứ theo Điều 212 Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13: Hộ kinh doanh sử dụng thƣờng xuyên từ 10 lao động trở lên phải đăng ký thành lập doanh nghiệp hoạt động theo quy định. Hộ kinh doanh có quy mô nhỏ thực hiện đăng ký kinh doanh và hoạt động theo quy định của Chính phủ. Với quy mô sản xuất kinh doanh thƣờng nhỏ, loại hình sản xuất kinh doanh đa dạng, cho phép tạo ra nhiều chủng loại sản phẩm, dịch vụ đáp ứng nhu cầu của xã hội.
+ Thứ ba, Chủ hộ kinh doanh chịu trách nhiệm vô hạn đối với các khoản nợ của hộ kinh doanh. Hộ kinh doanh không phải là một thực thể độc lập, tách biệt với chủ nhân của nó. Về nguyên tắc chủ hộ kinh doanh phải chịu trách nhiệm vô hạn 8 đối với khoản nợ của hộ kinh doanh, có nghĩa là chủ nhân của hộ kinh doanh phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình kể cả tài sản không đƣa vào kinh doanh. Vai trò của hộ kinh doanh đối với nền kinh tế Trong điều kiện kinh tế thị trƣờng, kinh doanh có một vai trò hết sức to lớn đó là tạo ra nhiều chủng loại sản phẩm, dịch vụ cho xã hội, đồng thời đóng vai trò làm vệ tinh cho các doanh nghiệp của nền kinh tế trong quá trình phân phối, luân chuyển hàng hóa, dịch vụ tạo nên mạng lƣới lƣu thông rộng khắp.
Thông qua các hộ kinh doanh có thể huy động đƣợc nguồn vốn lớn còn đang tiềm năng trong nhân dân cho nền kinh tế. Đặc biệt trong điều kiện cạnh tranh của nền kinh tế thị trƣờng, tình trạng thất nghiệp đang ngày càng gia tăng thì chính việc thu hút một số lƣợng lao động đáng kể của hộ kinh doanh đã góp phần giải quyết vấn đề thất nghiệp cho xã hội đồng thời tăng thu nhập, góp phần cải thiện đời sống cho ngƣời lao động. Đồng thời, hộ kinh doanh cũng góp phần không nhỏ thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động ở nông thôn. Sự phát triển của hộ kinh doanh thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế, tạo nguồn thu ổn định và ngày càng tăng cho NSNN.
Mặc dù có vai trò hết sức quan trọng song thành phần kinh tế hộ kinh doanh cũng có một số mặt hạn chế đó là: Khả năng áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất rất hạn chế. Sự năng động mang tính chất tự phát, luôn tìm những chỗ sơ hở để kinh doanh trái phép và trốn lậu thuế, gây khó khăn cho công tác quản lý. Chính vì vậy cần phải tăng cƣờng sự quản lý của Nhà nƣớc thông qua công cụ pháp luật, nhằm tạo ra hành lang pháp lý và môi trƣờng hoạt động lành mạnh, giúp thành phần kinh tế này hoạt động có hiệu quả. Các sắc thuế chủ yếu áp dụng với hộ kinh doanh - Thuế môn bài (từ trƣớc năm 2017) hoặc lệ phí môn bài (từ năm 2017 trở đi): Hiện nay, lệ phí môn bài đƣợc tính và nộp một lần trong 1 năm đối với 9 các hộ kinh doanh có mức doanh thu từ 100 triệu đồng/ năm trở lên.
Mức nộp lệ phí Môn bài đƣợc tính dựa theo doanh thu hàng năm của hộ kinh doanh, quy định có 3 mức thu (theo Phụ lục 01). Về thời gian kê khai và nộp lệ phí môn bài: Hộ ra kinh doanh vào thời gian 6 tháng đầu năm thì nộp mức môn bài cả năm, hộ ra kinh doanh vào 6 tháng cuối năm thì nộp 50% mức môn bài cả năm. Hộ đang kinh doanh thì nộp môn bài chậm nhất ngày 30/01 năm dƣơng lịch, hộ mới ra kinh doanh thì nộp môn bài chậm nhất là ngày cuối cùng của tháng ra kinh doanh. - Thuế giá trị gia tăng (GTGT) và thuế thu nhập cá nhân (TNCN): Thuế giá trị gia tăng là loại thuế gián thu, đƣợc tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lƣu thông đến tiêu dùng.
Thuế TNCN là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập thực nhận đƣợc của các cá nhân trong một kỳ tính thuế nhất định thƣờng một năm, từng tháng hoặc từng lần, không phân biệt nguồn gốc phát sinh thu nhập Theo quy định tại Thông tƣ 92/2015/TT-BTC ngày 15/6/2015 của Bộ Tài chính, hộ kinh doanh nộp thuế theo phƣơng pháp khoán (sau đây gọi tắt là hộ kinh doanh) có mức doanh thu từ 100 triệu đồng/năm trở xuống thì không phải nộp thuế GTGT và thuế TNCN. Cách tính số thuế phải nộp: Số thuế GTGT phải nộp = Doanh thu tính thuế x Tỷ lệ thuế GTGT Số thuế TNCN phải nộp = Doanh thu tính thuế x Tỷ lệ thuế TNCN Trong đó: Doanh thu tính thuế là doanh thu bao gồm thuế (trƣờng hợp thuộc diện chịu thuế) của toàn bộ tiền bán hàng, tiền gia công, tiền hoa hồng, tiền cung ứng dịch vụ phát sinh trong kỳ tính thuế từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ. Trƣờng hợp cá nhân nộp thuế khoán có sử dụng hoá đơn của cơ quan thuế thì doanh thu tính thuế đƣợc căn cứ theo doanh thu khoán và doanh thu trên hoá đơn. Trƣờng hợp cá nhân kinh doanh không xác 10 định đƣợc doanh thu tính thuế khoán hoặc xác định không phù hợp thực tế thì cơ quan thuế có thẩm quyền ấn định doanh thu tính thuế khoán theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.
Tỷ lệ thuế GTGT và tỷ lệ thuế TNCN áp dụng đối với từng lĩnh vực ngành nghề (chi tiết tại Phụ lục 02). - Thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB): là loại thuế gián thu đánh vào một số hàng hóa dịch vụ đặc biệt, nhằm điều tiết, hƣớng dẫn sản xuất, tiêu dùng của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ. Đối tƣợng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB) đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 2 Luật thuế tiêu thụ đặc biệt số 27/2008/QH12 ngày 14 tháng 11 năm 2008, tại khoản 1 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt số 70/2014/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2014 và Điều 2 Nghị định số 108/2015/NĐ-CP ngày 28 tháng 10 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hƣớng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt. Cách tính thuế tiêu thụ đặc biệt: Số thuế TTĐB đã nộp đối với Số thuế TTĐB hàng hóa, nguyên liệu ở khâu Số thuế TTĐB của hàng hoá chịu nhập khẩu hoặc số thuế TTĐB = - phải nộp thuế TTĐB đƣợc đã trả ở khâu nguyên liệu mua bán ra trong kỳ.
vào tƣơng ứng với số hàng hoá đƣợc bán ra trong kỳ. - Ngoài ra hộ kinh doanh còn có thể phải chịu một số loại thuế khác nhƣ thuế tài nguyên, thuế môi trƣờng,. CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ HỘ KINH DOANH 1. Khái niệm, vai trò quản lý thuế hộ kinh doanh Để pháp luật về thuế đƣợc đảm bảo thực hiện, Nhà nƣớc phải tổ chức ra bộ máy để quản lý thu thuế và giám sát thực hiện đối với bộ máy này.