Luận án về quản lý thực tập sư phạm trong đào tạo giáo viên mầm non ở khu vực Tây Bắc

Luận án phân tích quản lý thực tập sư phạm cho giáo viên mầm non tại các trường cao đẳng Tây Bắc, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục.

Trường đại học

Cao đẳng Sư phạm Điện Biên, Cao đẳng Cộng đồng Lai Châu, Cao đẳng Sơn La

Chuyên ngành

Giáo dục Mầm non

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án
235
3
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THỰC TẬP SƯ PHẠM TRONG ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN MẦM NON Ở CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG KHU VỰC TÂY BẮC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC

1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.2. Quản lý đào tạo trong các trường Đại học, cao đẳng đào tạo giáo viên

1.2.1. Nghiên cứu ngoài nước

Tóm tắt

I. Giới thiệu về quản lý thực tập sư phạm

Quản lý thực tập sư phạm (quản lý thực tập) đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên mầm non. Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần phát triển đất nước. Mục tiêu cuối cùng của giáo dục là đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng, trong đó giáo viên giữ vai trò quyết định. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội khẳng định rằng phát triển đội ngũ nhà giáo là nhiệm vụ cấp thiết. Đào tạo giáo viên không chỉ là trang bị kiến thức mà còn phát triển năng lực và phẩm chất người học. Thực tập sư phạm là phương thức quan trọng giúp sinh viên trải nghiệm thực tiễn, nâng cao nhận thức và lòng yêu nghề. Qua quá trình thực tập, sinh viên được trau dồi kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp, từ đó hình thành phẩm chất và năng lực sư phạm cần thiết cho công tác giáo dục.

1.1. Vai trò của thực tập sư phạm

Thực tập sư phạm (thực tập sư phạm) là giai đoạn quan trọng trong quá trình đào tạo giáo viên mầm non. Qua thực tập, sinh viên không chỉ học hỏi từ lý thuyết mà còn áp dụng vào thực tiễn. Điều này giúp sinh viên nắm vững các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của giáo viên. Thực tập cũng tạo cơ hội cho sinh viên tiếp xúc với thực tế giáo dục, hòa mình vào tập thể sư phạm, và thực hành các kỹ năng sư phạm. Tuy nhiên, thực tập sư phạm còn gặp nhiều khó khăn, như nội dung thực tập chưa sát thực với đặc thù khu vực miền núi, dẫn đến sinh viên chưa chủ động trong các hoạt động chăm sóc trẻ. Do đó, việc quản lý thực tập sư phạm cần được cải thiện để nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên.

II. Thực trạng quản lý thực tập sư phạm tại các trường cao đẳng Tây Bắc

Quá trình quản lý thực tập sư phạm tại các trường cao đẳng khu vực Tây Bắc hiện nay còn nhiều hạn chế. Nội dung giảng dạy và thực tập chưa hiệu quả, chưa sát thực với đặc thù khu vực miền núi. Kỹ năng nghề nghiệp và kỹ năng mềm của sinh viên còn hạn chế, ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo. Công tác kiểm tra, đánh giá kết quả thực tập chưa phản ánh đúng năng lực của sinh viên. Các trường cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ban chỉ đạo thực tập và các cơ sở thực tập để nâng cao chất lượng thực tập. Việc xây dựng kế hoạch và tổ chức thực tập cần cụ thể và chi tiết hơn, nhằm đảm bảo sinh viên có đủ kỹ năng và phẩm chất cần thiết cho nghề giáo.

2.1. Những khó khăn trong quản lý thực tập

Quản lý thực tập sư phạm tại các trường cao đẳng khu vực Tây Bắc còn gặp nhiều khó khăn. Một số khâu trong thực tập còn hình thức, chưa bài bản và chu đáo. Việc tổ chức các hoạt động lên lớp dạy học còn lúng túng, kỹ năng giao tiếp và các kỹ năng mềm của sinh viên còn rất hạn chế. Công tác kiểm tra, đánh giá kết quả thực tập chưa thực sự khách quan và chưa gắn với các chuẩn đầu ra. Điều này dẫn đến chất lượng đào tạo giáo viên mầm non chưa đảm bảo, chưa đáp ứng được yêu cầu về năng lực nghề nghiệp tại các cơ sở giáo dục mầm non.

III. Đề xuất biện pháp quản lý thực tập sư phạm

Để nâng cao chất lượng quản lý thực tập sư phạm, cần thực hiện đồng bộ các biện pháp quản lý phù hợp với đặc thù khu vực miền núi. Cần xây dựng các văn bản hướng dẫn cụ thể cho nội dung thực hành thực tập, đồng thời cử giảng viên đi khảo sát để lựa chọn địa điểm thực tập phù hợp. Việc tổ chức các hoạt động thực tập cần linh hoạt và sát thực hơn với yêu cầu của chương trình giáo dục mầm non mới. Đặc biệt, cần chú trọng đến việc rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp cho sinh viên, giúp họ tự tin hơn khi bước vào nghề giáo. Các biện pháp này sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên mầm non tại các trường cao đẳng khu vực Tây Bắc.

3.1. Cải tiến nội dung và phương pháp thực tập

Cải tiến nội dung và phương pháp thực tập là một trong những biện pháp quan trọng để nâng cao chất lượng đào tạo. Cần xây dựng chương trình thực tập gắn liền với thực tiễn giáo dục tại các cơ sở mầm non. Việc tổ chức các hoạt động thực tập cần chú trọng đến việc phát triển kỹ năng mềm và kỹ năng nghề nghiệp cho sinh viên. Đồng thời, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các trường cao đẳng và các cơ sở thực tập để đảm bảo sinh viên có cơ hội thực hành và trải nghiệm thực tế. Điều này không chỉ giúp sinh viên nâng cao năng lực mà còn tạo dựng uy tín cho các trường đào tạo giáo viên.

25/01/2025
Luận án quản lý thực tập sư phạm trong đào tạo giáo viên mầm non ở các trường cao đẳng khu vực tây bắc đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị gồm có 3 chƣơng: 10 Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về quản lý TTSP trong đào tạo giáo viên mầm non ở các trƣờng cao đẳng khu vực Tây Bắc đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục. Thực trạng quản lý thực tập sƣ phạm trong đào tạo giáo viên mầm non của các trƣờng Cao đẳng khu vực Tây Bắc. Biện pháp quản lý thực tập sƣ phạm trong đào tạo giáo viên mầm non của các trƣờng Cao đẳng khu vực Tây Bắc đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục.

11 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THỰC TẬP SƢ PHẠM TRONG ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN MẦM NON Ở CÁC TRƢỜNG CAO ĐẲNG KHU VỰC TÂY BẮC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Quản lý đào tạo trong các trường Đại học, cao đẳng đào tạo giáo viên 1.Nghiên cứu ngoài nước Từ cuối những năm 1980, trên thế giới nói chung và Châu Âu nói riêng đã chứng kiến một sự thay đổi lớn về triết lí giáo dục đại học, đó là xu hƣớng chung của các trƣờng đại học đa dạng hóa CTĐT nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội, đa ngành và tự trị, GDDH đã chuyển dịch sang một mô hình có tính thƣơng mại và hƣớng tới xã hội nhiều hơn. Một số công trình nghiên cứu của các tác giả John E.Kerrigan and Jeff S.Noonan đã đề cập đến quản lý đào tạo đƣợc thực hiện trong cơ chế thị trƣờng theo quy luật cung -cầu, tiếp cận hiện đại gắn nhà trƣờng với các bên sử dụng lao động, dựa trên nhu cầu của việc làm và ngƣời học trong cộng đồng [74].

Ở nhiều nƣớc phát triển ở Châu Âu, châu Mỹ nhƣ Đức, Pháp, Anh, Hoa Kỳ, Canada và một số quốc gia châu Á nhƣ Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan,. các vấn đề về lí thuyết đào tạo, quản lý và phát triển nguồn nhân lực đã đƣợc các tác giả nghiên cứu một cách toàn diện và sâu sắc [79]. Chẳng hạn ở Nga, hệ thống giáo dục coi trọng tự học nhƣng nhấn mạnh chuẩn giáo dục thống nhất của nhà nƣớc đối với mọi hình thức. Các cơ sở đào tạo đại học đƣợc quyền tự trị.

Điều khác biệt giữa cơ sở công lập và tƣ thục là nguồn tài chính và sở hữu [70]. Còn ở Hoa Kỳ, các trƣờng nói chung hoạt động theo nguyên tắc tự quản và tự do về học thuật. Bản chất giáo dục ở đây xuất phát từ ba nét đặc trƣng nổi bật là: lí tƣởng, năng động và năng suất cao [70]. Nghiên cứu của David G.Imig cho thấy CTĐT hiện nay bị coi là vừa thiếu tính học thuật nghiêm ngặt vừa xa rời thực tế giáo dục [5].

Ở Nhật Bản, chiến lƣợc giáo dục là một mô hình của sự giao lƣu văn hóa có tính độc lập và thông minh ở chỗ tiếp thu văn minh Tây Âu ở mức độ cao, tuy nhiên mô hình giáo dục chuyên nghiệp ở Nhật đáng để cho các nƣớc phát triển tham khảo. Việc quản lí các trƣờng đại học ở Nhật rất đa dạng, đào tạo sƣ phạm đƣợc đảm bảo 12 ở trình độ đại học cho dù ngƣời tốt nghiệp dạy ở bậc học nào [70]. Các nghiên cứu ở các quốc gia Châu Á khác nhƣ Trung Quốc, Nhật Bản và Singapore đều nêu lên hiện trạng là chƣơng trình ĐTGV theo kiểu truyền thống đang đứng trƣớc những thử thách gay go bởi những bất cập về sản phẩm, chất lƣợng, chính sách hay chƣơng trình đào tạo [86]. Khi bàn về các giải pháp quản lý, các Tác giả Jenni Koivula và Risto Rinne cho rằng các trƣờng đại học hiện nay đang có nhiều thách thức mới, đòi hỏi phải cải tổ lại về nhiều mặt, các trƣờng cần phải trở nên tích cực hơn, chủ động và sáng tạo đối với những đổi mới bên ngoài, đồng thời cũng phải định hình lại tính năng động trong giảng dạy, nghiên cứu, quản trị, tổ chức và lãnh đạo.

Nhà nghiên cứu Patrick Demougin cho rằng cải cách ĐTGV nhƣ một công cụ để đổi mới hệ thống giáo dục. Nội dung đổi mới trong ĐTGV là triển khai áp dụng đào tạo theo hƣớng tiếp cận kỹ năng mà cách tốt nhất là thông qua các hoạt động THTT [49].Tác giả John West - Burham nhấn mạnh "khoảng cách giữa hình ảnh và giá trị càng lớn thì tổ chức sẽ càng ít khách hàng, chất lượng của việc dạy quyết định thành tích của các học sinh, chất lượng của người lãnh đạo quyết định chất lượng của việc dạy học" [49]. Tiếp đó, một số nghiên cứu của các tác giả Dorothy Myers và Robert Stonihill, Freeman, Danielle Colardyn đã nhấn mạnh rằng QLCL trong giáo dục cần đƣợc đổi mới, trong đó ĐBCL là cách tiếp cận có hệ thống đảm bảo đƣợc các nhu cầu đặt ra [59]. Điều đó cho thấy yêu cầu đặt ra đối với một ngƣời giáo viên trong thế kỉ XXI là hết sức lớn lao, nặng nề và toàn diện.

Bên cạnh đó, hoạt động học tập của sinh viên là một vấn đề đã đƣợc các chuyên gia giáo dục, các nhà nghiên cứu luôn quan tâm. Đó là quan điểm QLĐT tƣơng đối cởi mở, hiện đại và tiến bộ. Charles T Towley với nghiên cứu của mình đã tổng kết mô hình quản lý nhà trƣờng ở ĐH New Mexico dựa trên nguyên tắc cùng quản lý điều hành, trong đó cho thấy hoạt động giảng dạy và học tập trong trƣờng đại học đòi hỏi phải có sự hợp tác, phối hợp của giáo viên và sinh viên. Hoạt động học tập của sinh viên đƣợc đề cập 13 nhƣ một hoạt động của ngƣời cộng tác, SV cần phải tự xây dựng, khám phá mở rộng và kiến tạo kiến thức cho bản thân [46].

TTSP thực chất là một hoạt động học tập của SV, do đó cần xem xét quản lí TTSP là một thành tố của quản lý quá trình dạy và học nhằm nâng cao chất lƣợng TTSP hay sản phẩm sƣ phạm đƣợc tạo thành. Vấn đề quản lí đào tạo, phát triển đội ngũ GVMN trên thế giới đã đƣợc đề cập đến khá nhiều bởi những công trình nghiên cứu chuyên sâu hay báo cáo những nét đặc trƣng ở một số nƣớc. Báo cáo giám sát về toàn cầu về giáo dục cho thấy “Trình độ chuyên môn cho giáo viên trước tuổi đi học khác nhau ở nhiều nước. Các nước thuộc tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế thường yêu cầu trình độ đại học.

Ở Pháp, giáo viên trước tuổi đi học phải thi đỗ kì thi quốc gia dành cho SV có bằng 3 năm sau trung học. Ở Bỉ, Đan Mạch, Phần Lan, Hy Lạp, Bồ Đào Nha,…cũng phải hoàn thành ít nhất giáo dục 3 năm sau trung học. Ở Tây Ban Nha, trình độ của giáo viên trước tuổi đi học là thạc sĩ” [137]. Ở Đức, thực hiện theo Thỏa thuận khung, trong đó nêu rõ những nhiệm vụ chăm sóc và giáo dục trẻ, các năng lực cần thiết, nội dung đào tạo và các yêu cầu, điều kiện đòi hỏi ngƣời học phải đáp ứng đƣợc để sau tốt nghiệp trở thành giáo viên độc lập [88].

Còn ở Hoa Kỳ, các trƣờng mầm non phải sử dụng chƣơng trình liên kết với chuẩn tiểu học, thực hiện thực hành tốt nhất cho trẻ, tỷ lệ trẻ/giáo viên thấp (không vƣợt quá 10/1). Đối với khu vực châu Á, Nhật Bản có GDMN bình đẳng cho mọi trẻ và mang tính xã hội hóa cao, không có chƣơng trình chung do nhà nƣớc quy định mà mỗi trƣờng tự xây dựng phù hợp với sự phát triển trí tuệ và thể chất của trẻ [88]. Nhƣ vậy, tuy có sự khác biệt trong thời lƣợng và chính sách ở các nƣớc khác nhau trong đào tạo và quản lí đào tạo GVMN song đều hƣớng tới các năng lực cần thiết trong đào tạo để đáp ứng đƣợc các mục tiêu chăm sóc và giáo dục trẻ. Nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam, xu hƣớng hiện nay cho thấy hầu hết các trƣờng ĐH,CĐ đã không còn là trƣờng đào tạo chuyên ngành nữa mà đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực.

Xuất phát từ nhu cầu xã hội, vị trí và uy tín của các nhà trƣờng đối với xã hội và cộng đồng địa phƣơng, một số trƣờng đã thay đổi tên trƣờng, sứ mạng cho phù hợp với thực tế và xu hƣớng chung. Các tác giả Trần Khánh Đức [37], Nguyễn Minh Đƣờng [38], Nguyễn 14 Đức Trí [122] đã giới thiệu tổng thể và chi tiết đến công tác QLĐT, đề xuất các giải pháp trong đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Đó là những định hƣớng giá trị cho quá trình QLĐT nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội theo tiếp cận thị trƣờng. QLĐT là hệ thống các tác động có mục đích đến quá trình đào tạo, trong đó bao gồm nhiều yếu tố cùng vận động trong các mối quan hệ mật thiết với nhau [74].

Đối tƣợng của QLĐT trong nhà trƣờng là sự hoạt động của GV, SV và các tổ chức sƣ phạm trong việc thực hiện các kế hoạch và CTĐT nhằm đạt đƣợc mục tiêu đào tạo. Mục tiêu của QLĐT là đảm bảo thực hiện đầy đủ các mục tiêu, kế hoạch, nội dung CTĐT theo đúng tiến độ thời gian quy định, đảm bảo quá trình đào tạo chất lƣợng cao [122]. Từ mục tiêu của nền giáo dục Việt Nam đặt ra mục tiêu của các trƣờng ĐTGV hiện nay:“Đào tạo những người có phẩm chất chính trị vững vàng, có lập trường tư tưởng đúng đắn, có tư cách đạo đức tốt, yêu nghề và sẵn sàng cống hiến cho sự nghiệp giáo dục, có khả năng chuyên môn và nghiệp vụ tổ chức giảng dạy, có óc sáng tạo, có khả năng và sự say mê tự học, tự nghiên cứu, …” [113]. Xuất phát từ mục tiêu đó, đổi mới chƣơng trình ĐTGV nhằm đáp ứng mục tiêu đào tạo là phát triển năng lực và phẩm chất của sinh viên sƣ phạm - những nhà giáo tƣơng lai hài hòa đức, trí, thể, mỹ; dạy ngƣời, dạy chữ và dạy nghề phù hợp với mục tiêu giáo dục Việt Nam là việc làm cần thiết.

Từ đó các Nghị quyết, Chƣơng trình hành động nhằm xác định các giải pháp quản lý, đổi mới giáo dục đƣợc ban hành [6], [7].Các Hội thảo khoa học, công trình nghiên cứu, bài viết của các tác giả cũng liên tục đƣợc thực hiện trên nhiều phƣơng diện khác nhau [8], [128], [22],. Nghiên cứu “Tiếp cận hiện đại trong quản lý giáo dục” của tác giả Trần Kiểm [68] đề cập đến “tiếp cận phức hợp” và “tiếp cận dựa vào nhà trƣờng”, nghĩa là chủ thể QLĐT phải nhìn nhận đối tƣợng quản lý nhƣ một chỉnh thể, cần phải có cái nhìn biện chứng đồng thời ngƣời dạy, ngƣời học đƣợc tham gia một cách dân chủ vào việc quản lý. Đó là một xu thế mới, hiện đại góp phần nâng cao hiệu quả, vị thế và phát triển cơ sở đào tạo.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Luận án về quản lý thực tập sư phạm trong đào tạo giáo viên mầm non ở khu vực Tây Bắc" tập trung vào việc nghiên cứu và đề xuất các giải pháp quản lý hoạt động thực tập sư phạm cho sinh viên ngành giáo dục mầm non tại các trường cao đẳng ở khu vực Tây Bắc, bao gồm Điện Biên, Lai Châu và Sơn La. Luận án này không chỉ làm rõ thực trạng quản lý mà còn đưa ra những khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên mầm non, từ đó góp phần cải thiện chất lượng giáo dục trong khu vực.

Độc giả có thể tìm hiểu thêm về các khía cạnh liên quan đến quản lý giáo dục và phát triển năng lực giảng dạy qua các bài viết như Thực trạng quản lý hoạt động thực tập sư phạm của sinh viên Khoa Giáo dục Mầm non, Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương Nha Trang, nơi phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp cho hoạt động thực tập sư phạm. Bài viết Quản Lý Hoạt Động Nghiên Cứu Khoa Học Của Giảng Viên Trường Cao Đẳng Sư Phạm Trung Ương Thành Phố Hồ Chí Minh cũng mang lại cái nhìn sâu sắc về quản lý giáo dục, giúp độc giả hiểu rõ hơn về vai trò của nghiên cứu khoa học trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy. Cuối cùng, bài viết Thực trạng quản lý đội ngũ giáo viên ở các trường trung học phổ thông huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương sẽ cung cấp thêm thông tin về quản lý đội ngũ giáo viên, một yếu tố quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục.

Những tài liệu này không chỉ mở rộng kiến thức mà còn giúp độc giả có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề trong quản lý giáo dục hiện nay.