CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG THỰC TẬP LÂM SÀNG CỦA SINH VIÊN NGÀNH ĐIỀU DƯỠNG TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Một số nghiên cứu ở nước ngoài Trong xã hội không chỉ có nhu cầu lao động kỹ thuật phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiên đại hóa đất nước, mà còn có nhu cầu về lực lượng chăm sóc sức khỏe con người ngày càng cao ở cả trong nước và quốc tế. ĐD chính là lực lượng lao động trực tiếp chăm sóc sức khỏe cho cả bệnh nhân và sức khỏe con người trong cộng đồng.
Hiện nay trên thế giới, nhu cầu đào tạo ĐD viên đã gia tăng một cách nhanh chóng, để đáp ứng nhu cầu chăm sóc bệnh nhân/ khách hàng một cách toàn diện hơn. Vì vậy, quan niệm về nghề ĐD cũng thay đổi và có một định hướng riêng biệt như các ngành nghề khác nhau đáp ứng kịp thời các nhu cầu chăm sóc bệnh nhân/ khách hàng một cách toàn diện hơn. - Cuốn “Sổ tay giáo dục dành cho cán bộ y tế” (1997) của tác giả J. Guilbert đã nêu rõ quan điểm thực tập chính là trọng tâm của giáo dục y học, lấy người học làm trung tâm.
Tác giả nêu ra những vấn đề cơ bản và cách giải quyết những vấn đề đó như: cách xây dựng một kế hoạch thực tập, quản lý việc lượng giá các kỹ năng thực hành của SV, quản lý phương pháp hướng dẫn thực tập của GV, phương pháp đánh giá cuối đợt thực tập của SV,… [22] - Nghiên cứu của nhóm tác giả Scanlan Judith, Care và Gessler Sandra “Giải pháp cho tình trạng SV chưa đạt yêu cầu trong thực tập lâm sàng” được in trong tập chí Nurse Educatorr (2001) đã nêu ra và phân tích tình trạng SV chưa đạt yêu cầu trong thực tập lâm sàng để từ đó tác giả đưa ra các biện pháp khắc phục nhằm nâng cao chất lượng đào tạo tay nghề cho nhân viên y tế [25]. 7 - Cuốn tài liệu: “Giảng dạy nhân viên chăm sóc sức khỏe” của tác giả Fred Abbatt và Rosemany McMahon (1985) là một cuốn sách hướng dẫn thực hành dành cho công tác giảng dạy nhân viên y tế. Cuốn sách đã được sử dụng ở nhiều nước trên thế giới. Tác giả giải thích rõ vấn đề người GV phải biết cụ thể người học cần học cái gì.
Từ nhiệm vụ, tác giả phân tích sự khác biệt giữa các điều cần học khác nhau: Kiến thức, thái độ, kỹ năng thao tác tay nghề. Tác giả đưa ra khái quát những gì cần học, làm cơ sở để nhà quản lý xây dựng kế hoạch chung cho chương trình khóa học, kế hoạch đánh giá và lựa chọn các phương pháp giảng dạy cũng như kế hoạch quản lý [21]. - Tác giả Katie Tonarely có bài viết: “Tầm quan trọng của thực tập lâm sàng trong đào tạo ĐD” đã nêu rõ quá trình đào tạo để trở thành người ĐD chuyên nghiệp, SV ĐD phải tham gia thực tập lâm sàng dưới sự hướng dẫn của GV. Mục đích là chuẩn bị cho SV làm công việc chăm sóc một cách độc lập và thích đáng.
Tác giả nêu rõ lợi ích của việc thực tập lâm sàng là giúp cho SV ĐD có thái độ đúng đắn trong việc chăm sóc BN. GV có trách nhiệm hướng dẫn SV cách xử lý tình huống lâm sàng, qua đó đánh giá được kiến thức của SV, đánh giá khả năng ghi nhận, báo cáo những diễn biến của BN, lập kế hoạch chăm sóc và thực hiện kế hoạch chăm sóc, thái độ đối với BN. Khi SV đạt được những yêu cầu nêu trên là SV đó đã đạt về kỹ năng nghề nghiệp [24]. - “Cẩm nang về phát triển chương trình đào tạo theo năng lực thực hiện” của nhóm nghiên cứu William E.
Blank đã đưa ra được tiêu chuẩn đầu ra của quá trình đào tạo, làm tiền đề cho việc lập các kế hoạch, thực hiện quá trình đào tạo và vấn đề đánh giá kết quả học tập của SV [26]. Nghiên cứu của Học viện Khoa học Y học quốc gia Hoa kỳ đã chỉ ra rằng: “Trình độ ĐD ảnh hưởng tới những kết quả đầu ra và sự an toàn của BN”. Việc theo dõi không đầy đủ, thiếu phương tiện làm việc và sự quá tải công việc trong khi số lượng ĐD chuyên nghiệp quá thiếu. Điều này liên quan tới sự gia tăng tỷ 8 lệ tử vong và thương tổn cho BN đã giết chết 98.000 BN ở Mỹ mỗi năm, trong khi những sai sót y tế nói trên có khả năng phòng ngừa được.
Tại Thái Lan, Philippine: Đã có những chương trình đào tạo ĐD theo từng chuyên ngành (Nurse Practitioner/ Specialist): lão khoa, nhi khoa, người lớn, chăm sóc gia đình, cộng đồng, sức khỏe tâm thần, …theo xu hướng chăm sóc sức khỏe dựa vào chứng cứ (evidence- based healthcare ). Vì vậy việc quản lý hoạt động thực tập của sinh viên ĐD là rất cần thiết, đặc biệt trong đào tạo ĐD, chủ yếu là thực hành, thực tập, nhất là thực tập lâm sàng tại Bệnh viện. Trải nghiệm này là tối cần thiết cho một sinh viên ĐD để hoàn tất khóa học và bước vào nghề. Chỉ ở môi trường Bệnh viện, người sinh viên ĐD mới có cơ hội tiếp xúc với BN, nhìn thấy những dấu hiệu, những biến đổi, những triệu chứng thực thể, cơ năng, những tâm tư nguyện vọng của BN.
Bên cạnh đó người sinh viên ĐD còn được kiến tập và thực tập những kỹ thuật ĐD trên bệnh nhân dưới sự hướng dẫn “cầm tay chỉ việc” của GV hoặc ĐD bệnh viện. Theo quan điểm Trường Queensland University of technology của Úc thì: Việc giảng dạy trên lâm sàng và học tại nơi làm việc bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố: nguồn lực, đặc biệt là thời gian, khối lượng công việc và số nhân viên hiện có. Yêu cầu bên ngoài mong đợi và yêu cầu học hỏi trong môi trường lâm sàng. Việc học tại nơi làm việc nhấn mạnh nhu cầu phối hợp giữa học và làm nhằm đem lại lợi ích cho bệnh nhân, sinh viên và đơn vị.
Điều này cho người học cơ hội đạt được kiến thức, thái độ, kỹ năng phù hợp trong bối cảnh liên quan. Như vậy, có thể thấy, các công trình nghiên cứu trên thế giới hiện nay chủ yếu đề cập tới hoạt động đào tạo nhân viên ĐD, còn các nghiên cứu về thực tập lâm sàng và quản lý hoạt động thực tập lâm sàng ít được chú ý.2 Một số nghiên cứu trong nước Ngày 24 tháng 4 năm 2012, Bộ Y tế đã ban hành quyết định số 1352/QĐ-BYT về việc phê duyệt tài liệu "Chuẩn năng lực cơ bản của ĐD 9 Việt Nam". Bộ Chuẩn năng lực cơ bản của ĐD Việt Nam được cấu trúc theo khuôn mẫu chung của ĐD khu vực Châu Á Thái Bình Dương và ASEAN để đáp ứng yêu cầu của khu vực và để dễ so sánh với chuẩn năng lực ĐD các nước. Tài liệu chuẩn năng lực cơ bản ĐD Việt Nam được cấu trúc thành 3 lĩnh vực, 25 tiêu chuẩn và 110 tiêu chí.
Về lĩnh vực thực tập lâm sàng của SVĐD, chúng tôi tham khảo văn bản quy định về học phần thực tập lâm sàng của một số trường đào tạo ĐD. Trích Quyết định số: 4009/QĐ - ĐHĐN trường Đại học Đà Nẵng (ngày 12 tháng 11 năm 2020), văn bản đề rõ những quy định về thực tập lâm sàng, quy định đối với GV và sinh viên thực tập. Về hoạt động thực tập, đã có một số công trình đề cập đến, chẳng hạn như: - Tác giả Dương Đình Dũng thực hiện nghiên cứu trường hợp của Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định với mục đích xây dựng cách thức và các tiêu chuẩn, tiêu chí dùng để đánh giá chất lượng hoạt động học thực hành tại BV của SV ĐD. Kết quả nghiên cứu mang lại những lợi ích là đã tổng hợp được một số vấn đề lý luận liên quan đến việc đánh giá chất lượng hoạt động thực hành tại BV, từ đó đã thiết lập được các tiêu chuẩn, tiêu chí để đánh giá năng lực thực hành nghề nghiệp và áp dụng đánh giá chất lượng thực hành tại BV của SV Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định [7].
- Về thực trạng quản lý TTLS của SV Khoa ĐD được tác giả Nguyễn Thị Kim Thoa (2009), mô tả cụ thể tại Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch như sau: Khi được hỏi về thực trạng quản lý TTLS của SV Khoa Điều dưỡng tại Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, các SV cho biết họ có nhiều thuận lợi trong quá trình thực tập, GV ý thức rõ trách nhiệm hoạt động giảng dạy, song người học vẫn gặp khó khăn như: SV tham gia thực tập tại các khoa quá đông và lực lượng GV hướng dẫn thực tập thiếu nhiều; GV kiêm nhiệm từ các cơ sở thực tập hướng dẫn SV không phải là những GV thực sự đã qua kinh nghiệm giảng dạy hoặc có nghiệp vụ sư phạm nên công tác quản lý và 10 hướng dẫn cho SV chưa thật sự đạt yêu cầu đối với mục tiêu thực tập [17]. - “Một số giải pháp quản lý hoạt động thực tập lâm sàng của sinh viên ĐD trường Cao đẳng Y tế Thanh Hóa ở Bệnh viện đa khoa tỉnh” (2015), đây là một công trình nghiên cứu phân tích thực trạng quản lý hoạt động thực tập lâm sàng của sinh viên ĐD Trường cao đẳng Y tế Thanh Hóa ở Bệnh viên Đa khoa tỉnh, các nguyên nhân dẫn đến thực trạng, để từ đó đưa ra một số giải pháp quản lý nâng cao chất lượng thực tập lâm sàng của sinh viên ĐD tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thanh Hóa [12]. - Về tác giả Nguyễn Văn Khải (2013), ông đã khảo sát thực trạng quản lý dạy học lâm sàng cho SV ĐD tại các trường đại học y Việt Nam như sau: số lượng SV quá đông (30-40 SV, hoặc có đợt 60-80 SV), nhiều đối tượng trong cùng một khoa, tại một thời điểm. GV lâm sàng phải tham gia khám chữa bệnh tại BV, số lượng GV và GV kiêm chức ít trong khi đó số lượng SV đông, nhiều khi cùng một vấn đề GV dạy trên các đối tượng cùng một lúc (SV Y khoa hệ chính quy, chuyên tu, điều dưỡng).
Lý do thầy, cô đưa ra là “thiếu giảng viên, thiếu thời gian", cụ thể tại một bệnh viện SV ĐD cầm ống nghe đi khám bệnh, chấn đoán bệnh; điều này không đúng với quy định, quy chế đào tạo bởi lẽ đào tạo nghề y bác sĩ và đào tạo nghề ĐD là hai nghề khác nhau. Chức năng của ĐDV là người chăm sóc BN thông qua các quy trình kỹ thuật, tuy nhiên theo kết quả được tác giả đề tài này nghiên cứu, hình thức dạy học lâm sàng thông qua quy trình kỹ thuật chỉ có tỷ lệ khá thấp là 13.