CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN CỦA VIỆT NAM 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của thuế TNCN a. Khái niệm về thuế TNCN Thuế TNCN là một trong những hình thức thu quan trọng của NSNN của các nước trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng.
Tùy vào các nước khác nhau mà tỷ trọng thu cũng khác nhau như các nước Thái Lan, Philipin, Malaixia chiếm từ 15% đến 30%; Mỹ, Nhật, Canada, Séc chiếm tỷ trọng từ 30% đến 40% và trên 50%. Tuy nhiên hiện nay ở Việt Nam thuế TNCN chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng thu NSNN. Thuế TNCN là một loại thuế trực thu đánh vào thu nhập nhận được từ nhiều nguồn khác nhau của các cá nhân trong xã hội, trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm). Đặc điểm của thuế TNCN - Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu, đánh trực tiếp vào thu nhập chính đáng của từng cá nhân và Nhà nước thu tiền thuế trực tiếp từ các chủ thể trong nền kinh tế.
Do là thuế trực thu nên nó phản ánh sự đồng nhất giữa đối tượng nộp thuế theo luật và đối tượng chịu thuế theo ý nghĩa kinh tế. Người chịu thuế thu nhập cá nhân không có khả năng chuyển giao gánh nặng thuế khoá sang cho các đối tượng khác tại thời điểm đánh thuế. - Thuế TNCN có diện đánh thuế rất rộng, thể hiện trên hai khía cạnh: một là đối tượng đánh thuế TNCN là toàn bộ các khoản thu nhập của cá nhân thuộc diện đánh thuế không phân biệt thu nhập đó có nguồn gốc phát sinh trong nước hay ở nước ngoài; hai là đối tượng phải kê khai nộp thuế TNCN là Luan van 8 toàn bộ những người có thu nhập, bao gồm tất cả công dân của nước sở tại và những người nước ngoài cư trú thường xuyên hay không thường xuyên nhưng có số ngày có mặt, làm việc, có thu nhập theo mức độ quy định của pháp luật thuế TNCN. Vì vậy nó tạo ra nguồn thu rất cao cho Ngân sách Nhà nước của mỗi quốc gia.
- Thuế TNCN là một loại thuế thu nhập nhưng khác với thuế Thu nhập doanh nghiệp ở chỗ nó có tính tất yếu gắn với chính sách xã hội của mỗi quốc gia cho dù quốc gia đó có mục tiêu hoàn thiện chính sách thuế, xây dựng một chính sách thuế có tính trung lập không nhằm nhiều mục tiêu khác nhau. Thể hiện, nó luôn quy định loại trừ một số khoản thu nhập trước khi tính thuế TNCN như thu nhập mang tính trợ cấp xã hội, khoản chi cần thiết cho cuộc sống cá nhân, gia đình người nộp thuế, khoản chi mang tính nhân đạo xã hội. - Thuế TNCN có góc độ kỹ thuật tính thuế khá phức tạp bởi diện đánh thuế rộng, liên quan chặt chẽ với hoàn cảnh cá nhân, chính sách xã hội cụ thể, có áp dụng phương pháp luỹ tiến từng phần trên thu nhập chịu thuế. Có như vậy mới đảm bảo công bằng xã hội, người có thu nhập cao hơn thì trước và sau khi nộp thuế họ vẫn còn một khoản thu nhập cao hơn so với người có thu nhập thấp khi chưa nộp thuế.
Vai trò của thuế TNCN Tạo lập nguồn tài chính cho ngân sách nhà nước: Thuế TNCN là một trong những sắc thuế tạo nguồn tài chính cho NSNN. Thuế TNCN tạo ra nguồn thu lớn và tác động đến thu nhập của người dân. Góp phần thực hiện công bằng xã hội: Thu nhập của mỗi cá nhân phụ thuộc chủ yếu vào các yếu tố như khả năng và trình độ lao động, vị trí công tác, quyền sở hữu về tài sản của cá nhân đó. Tuy nhiên, các yếu tố nói trên của mỗi cá nhân thường không giống nhau nên đã tạo ra sự khác nhau về thu nhập của mỗi người.
Chính sự khác nhau ấy là nguồn gốc tạo ra sự phân cực Luan van 9 giàu nghèo, là sự bất bình đẳng trong xã hội. Để giải quyết vấn đề này, các nước đã dùng nhiều hình thức và biện pháp khác nhau trong đó thuế TNCN được xem như một công cụ hữu hiệu để điều tiết bớt thu nhập của những người có thu nhập cao, đảm bảo công bằng xã hội. Điều tiết thu nhập, tiêu dùng và tiết kiệm: Thuế TNCN là một công cụ rất cần thiết để thực hiện việc kiểm soát thu nhập của các tầng lớp dân cư, thực hiện công bằng xã hội và quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Để kiểm soát thu nhập người dân, nhà nước phải sử dụng đồng thời cơ chế quản lý quỹ tiền lương, tiền công, chế độ báo cáo quyết toán kinh doanh…và cơ chế kê khai nộp thuế TNCN, ban đầu có thể chưa chính xác, nhưng sẽ là căn cứ để thống kê thu nhập của người dân phục vụ chương trình mục tiêu nghiên cứu quốc gia, hoạch định chính sách phát triển phù hợp khi tính tuân thủ pháp luật, pháp chế xã hội được nâng lên.
Góp phần phát hiện thu nhập bất hợp pháp: nhiều khoản thu nhập của một số cá nhân thực tế nhận được từ việc thực hiện các hành vi bất hợp pháp hoặc bằng cách lợi dụng những kẽ hở của pháp luật mà không thể kiểm soát được như tham ô, nhận hối lộ, buôn bán hàng quốc cấm, trốn tránh thuế, lừa đảo chiếm đoạt tài sản của nhà nước và công dân. Những hành vi này ảnh hưởng rất lớn đến đời sống kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Phải kết hợp hữu hiệu nhiều biện pháp để ngăn chặn và chống lại những hành vi trên, một trong số các biện pháp ngăn chặn đó thì phải kể đến vai trò của thuế TNCN. Góp phần khắc phục nhược điểm của một số loại thuế khác: Một số thuế gián thu như thuế GTGT, thuế TTĐB đều có nhược điểm là có tính luỹ thoái và ảnh hưởng đến người nghèo nhiều hơn người giàu vì khi tiêu thụ cùng một lượng hàng hoá không phân biệt giàu nghèo và đều phải chịu thuế như nhau.
Nếu tính thuế TNCN theo phương pháp luỹ tiến từng phần sẽ góp phần khắc phục được nhược điểm này. Luan van 10 Góp phần hạn chế sự thất thu thuế thu nhập doanh nghiệp: Trong doanh nghiệp thường tồn tại cả thuế TNCN và thuế TNCN. Giữa hai loại thuế này luôn tồn tại mối quan hệ gắn bó với nhau. Thuế TNCN còn góp phần khắc phục sự thất thu thuế TNDN khi có sự thông đồng giữa các doanh nghiệp, cá nhân.
Trong trường hợp doanh nghiệp kê khai cao hơn thực tế những chi phí phải trả cho các cá nhân để làm giảm thu nhập tính thuế của doanh nghiệp nhằm trốn thuế TNDN thì các cá nhân nhận được những khoản trả nói trên sẽ phải nộp thêm thuế TNCN đối với phần thu nhập nhận được kê khai tăng thêm đó. Thu nhập của doanh nghiệp tăng thường kéo theo sự tăng lên của thuế TNCN và thuế TNDN. Nội dung cơ bản về thuế Thu nhập cá nhân a. Đối tượng nộp thuế Thuế TNCN thuộc loại thuế trực thu nên đối tượng chịu thuế cũng đồng thời là đối tượng nộp thuế.
Theo Luật thuế TNCN đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân là cá nhân cư trú có thu nhập chịu thuế phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam và cá nhân không cư trú có thu nhập chịu thuế phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam. Cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú được xác định như sau: - Cá nhân cư trú là người đáp ứng một trong các điều kiện sau đây: + Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc tính theo 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam; + Có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam, bao gồm có nơi ở đăng ký thường trú hoặc có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo hợp đồng thuê có thời hạn. - Cá nhân không cư trú là người không đáp ứng một trong các điều kiện quy định như cá nhân cư trú trên. Phương pháp tính thuế TNCN - Thuế TNCN đối với thu nhập từ kinh doanh, tiền lương, tiền công: Luan van 11 Thuế TNCN phải nộp = Thu nhập tính thuế * Thuế suất Thuế suất thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công được áp dụng theo biểu thuế luỹ tiến từng phần theo quy định tại Điều 22 Luật thuế TNCN cụ thể Bảng 1.1 - Thuế TNCN đối với thu nhập từ đầu tư vốn: Thuế TNCN phải nộp = Thu nhập tính thuế * Thuế suất 5% - Thuế TNCN đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn: Thuế TNCN phải nộp = Thu nhập tính thuế * Thuế suất 20% - Thuế TNCN đối với thu nhập từ chuyển chứng khoán: + Trường hợp cá nhân chuyển nhượng chứng khoán đăng ký nộp thuế theo biểu thuế toàn phần với thuế suất là 20%.
Thuế TNCN phải nộp = Thu nhập tính thuế * Thuế suất 20% + Trường hợp cá nhân chuyển nhượng chứng khoán không đăng ký nộp thuế theo biểu thuế toàn phần với thuế suất là 20% thì áp dụng thuế suất 0,1% trên giá chuyển nhượng chứng khoản từng lần. Thuế TNCN phải nộp = Giá chuyển nhượng * Thuế suất 0,1% - Thuế TNCN đối với thu nhập từ trúng thưởng: áp dụng theo biểu thuế toàn phần là 10%. Thuế TNCN phải nộp = Thu nhập tính thuế * Thuế suất 10% c. Xác định thu nhập chịu thuế và thu nhập tính thuế v Thu nhập chịu thuế: Theo quy định tại Điều 3 Luật thuế TNCN các khoản thu nhập chịu thuế TNCN trừ thu nhập được miễn thuế gồm các loại thu nhập sau: - Thu nhập từ kinh doanh, bao gồm: + Thu nhập từ sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ.
+ Thu nhập từ hoạt động hành nghề độc lập của cá nhân trong những lĩnh vực, ngành nghề được cấp giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề theo quy định Luan van 12 của pháp luật. + Thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh nông nghiệp, lâm nghiệp, làm muối, nuôi trồng, đánh bắt thuỷ.