Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG 1. Tổng quan về thuế giá trị gia tăng và quản lý thu thuế giá trị gia tăng 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của thuế giá trị gia tăng a. Khái niệm thuế trị gia tăng Thuế GTGT là một loại thuế phổ biến trên thế giới có tên gọi là VAT (Value Added Tax), tại một số quốc gia khác như: Australia, Canada, Singapore… thì được gọi là GST (Good and Services tax).
Thuế GTGT là một loại thuế gián thu được thể hiện ngay trên hóa đơn GTGT. Thuế GTGT đánh vào các giai đoạn sản xuất, kinh doanh được tính vào phần giá trị tăng thêm của mỗi giai đoạn. Nó được xác định bằng chênh lệch giữa tổng giá trị sản xuất và tiêu thụ với tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào tương ứng. Tổng số thuế GTGT ở mỗi giai đoạn luân chuyển chính bằng giá bán của sản phẩm ở giai đoạn cuối cùng.
Theo điều 2, Luật thuế GTGT số 13/2008/QH12 thuế GTGT thì thuế GTGT là một loại thuế gián thu đánh trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng và được nộp vào NSNN theo mức độ tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ. Đặc điểm của thuế giá trị gia tăng Thuế GTGT là một loại thuế gián thu tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Như các loại thuế khác, thuế GTGT cũng có những đặc điểm riêng biệt như sau: - Đối tượng chịu thuế GTGT là hàng hóa được tiêu dùng, dịch vụ được sử dụng trên lãnh thổ Việt Nam mà cụ thể là phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ đó (trừ các đối tượng không chịu thuế GTGT theo quy định của Pháp luật về thuế. c 6 - Đối tượng nộp thuế GTGT là các tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất, mua bán hàng hóa dịch vụ chịu thuế GTGT, những tổ chức kinh doanh và tổ chức khác có nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ từ nước ngoài chịu thuế GTGT.
- Thuế GTGT có căn cứ tính thuế là phần giá trị tăng thêm trong các khâu của quá trình lưu thông từ sản xuất đến tiêu dùng. Hay nói cách khác là giá bán chưa có thuế được ghi trên hóa đơn bán hàng của người bán, người cung cấp các mặt hàng dịch vụ… - Thuế GTGT phát sinh nhiều lần, xuất hiện ở mỗi khâu của quá trình kinh doanh từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng nhưng không trùng lặp nhau. Tổng số thuế GTGT của tất cả các giai đoạn đúng bằng số thuế tính trên giá sản phẩm mà người tiêu dùng sẽ là người phải trả tiền thuế cho tất cả các khâu sản xuất kinh doanh mặt hàng mà họ mua, không phân biệt thu nhập cao hay thu nhập thấp, tất cả người tiêu dùng đều phải trả số thuế như nhau trên cùng một mặt hàng, dịch vụ. - Thuế GTGT có phạm vi tác động rộng, đánh vào hầu như tất cả hàng hóa dịch vụ trên thị trường, quyền đánh thuế thuộc về quốc gia nơi mà hàng hóa, dịch vụ được bán không phân biệt nơi sản xuất ra sản phẩm hàng hóa, dịch vụ đó.
- Xét về mặt tính chất thì thuế GTGT là một loại thuế gián thu, tiền thuế được cấu thành trong giá cả hàng hóa và dịch vụ, người tiêu dùng là người cuối cùng chịu thuế, NNT chỉ là người thay thế người tiêu dùng thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cho nhà nước. - Thuế GTGT chỉ đánh vào hoạt động tiêu dùng diễn ra trong phạm vi lãnh thổ, không đánh vào phạm vi tiêu dùng ngoài lãnh thổ. Đặc điểm này đã tạo ra được sự công bằng trong những giao dịch quốc tế thông qua việc không thu thuế đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu và đánh thuế đối với hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu. Vai trò của thuế giá trị gia tăng Từ xưa đến nay thuế GTGT luôn có vai trò quan trọng trong nền kinh tế, đặc biệt là trong giai đoạn đang trên đà phát triển và hội nhập như hiện nay.
Thuế GTGT là một công vụ vô cùng quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp tới nguồn thu NSNN, nền kinh tế và hệ thống bộ máy quản lý Nhà nước và được Nhà nước sử dụng thuế như một công cụ để điều tiết nền kinh tế, thu nhập và giải quyết công bằng xã hội. Thuế GTGT là một loại thuế chiếm phần lớn trong tổng số thuế nộp vào NSNN và có những vai trò như sau: - Vai trò của thuế GTGT trong lưu thông hàng hóa. Với ưu điểm của thuế GTGT là Nhà nước chỉ thu thuế đối với phần giá trị tăng thêm của các sản phẩm ở từng khâu sản xuất, lưu thông mà không thu thuế đối với toàn bộ doanh thu phát sinh như mô hình thuế doanh thu. Nếu như không có các sự kiện biến động về tài chính, tiền tệ, sản xuất và lưu thông giảm, yếu kém, kinh tế suy thoái và các nguyên nhân khác tác động thì việc áp dụng thuế GTGT thay cho thuế doanh thu sẽ không ảnh hưởng gì đến giá cả các sản phẩm tiêu dùng, mà trái lại giá cả càng hợp lý hơn, chính xác hơn vì tránh được thuế chồng lên thuế.
- Vai trò của thuế GTGT trong quản lý Nhà nước về kinh tế. + Thuế GTGT thuộc loại thuế gián thu và được áp dụng rộng rãi đối với mọi tổ chức, cá nhân có tiêu dùng sản phẩm hàng hoá hoặc được cung ứng dịch vụ, nên tạo được nguồn thu lớn và tương đối ổn định cho NSNN. + Thuế tính trên giá bán hàng hoá hoặc giá dịch vụ nên không phải đi sâu xem xét, phân tích về tính hợp lý, hợp lệ của các khoản chi phí, làm cho việc tổ chức quản lý thu tương đối dễ dàng hơn các loại thuế trực thu. + Ðối với hàng xuất khẩu không những không phải nộp thuế GTGT mà còn được khấu trừ hoặc được hoàn lại số thuế GTGT đầu vào nên có tác dụng giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, đẩy mạnh xuất khẩu, tạo điều kiện cho hàng xuất khẩu có thể cạnh tranh thuận lợi trên thị trường quốc tế.
c 8 + Thuế GTGT cùng với thuế nhập khẩu làm tăng giá vốn đối với hàng nhập khẩu, có tác dụng tích cực bảo hộ sản xuất kinh doanh hàng nội địa. + Tạo điều kiện thuận lợi cho việc chống thất thu thuế đạt hiệu quả cao. + Thuế GTGT thường có ít thuế suất, bảo đảm sự đơn giản, rõ ràng. + Nâng cao được tính tự giác trong việc thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của NNT.
+ Tăng cường công tác hạch toán kế toán và thúc đẩy việc mua bán hàng hóa có hoá đơn chứng từ. + Việc khấu trừ thuế đã nộp ở đầu vào còn có tác dụng khuyến khích hiện đại hoá, chuyên môn hoá sản xuất. + Thuế GTGT được ban hành gắn liền với việc sửa đổi, bổ sung một số loại thuế khác góp phần làm cho hệ thống chính sách thuế của Việt Nam ngày càng hoàn thiện, phù hợp với sự vận động và phát triển của nền kinh tế thị trường.] - Vai trò của thuế GTGT trong việc tăng thu NSNN. Thuế GTGT được tính theo từng khâu trong giai đoạn sản xuất, từng giai đoạn, quá trình nên đóng vai trò quan trọng trong việc tăng nguồn thu NSNN.
Do đặc tính là thuế GTGT được tính từ ngay khâu đầu vì vậy nó luôn giữ được sự ổn định cho NSNN, hạn chế tối thiểu tình trạng thất thu. Hơn nữa, việc khấu trừ thuế GTGT được thực hiện dựa trên hóa đơn mua bán hàng hóa, dịch vụ nên khắc phục được tình trạng thông đồng giữa người [20] 1. Nội dung cơ bản của luật thuế giá trị gia tăng a. Xác định phạm vi áp dụng - Đối tượng chịu thuế GTGT: là các loại hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, thuế theo quy định của Luật thuế giá trị gia tăng và các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành.
Trừ các đối tượng quy định tại điều 5 của Luật số 13/2008/QH12 của Quốc hội về Luật thuế GTGT. c 9 - Đối tượng nộp thuế GTGT: là tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT ở Việt Nam, không phân biệt ngành nghề, hình thức, tổ chức kinh doanh và tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hoá, mua dịch vụ từ nước ngoài chịu thuế GTGT. Căn cứ tính thuế Căn cứ tính thuế GTGT theo quy định tại điều 7 luật thuế GTGT bao gồm: giá tính thuế và thuế suất. * Giá tính thuế GTGT: - Đối với hàng hóa, dịch vụ do cơ sở sản xuất, kinh doanh bán ra là giá bán chưa có thuế GTGT.
Đối với hàng hóa, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt là giá bán đã có thuế tiêu thụ đặc biệt nhưng chưa có thuế GTGT. - Đối với hàng hóa nhập khẩu là giá nhập tại cửa khẩu cộng (+) với thuế nhập khẩu (nếu có), cộng (+) với thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có), cộng (+) với thuế bảo vệ môi trường (nếu có). Giá nhập tại cửa khẩu được xác định theo quy định về giá tính thuế hàng nhập khẩu. - Đối với sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ dùng để trao đổi, biếu, tặng, cho, trả thay lương, là giá tính thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ cùng loại hoặc tương đương tại thời điểm phát sinh các hoạt động này.
- Đối với hoạt động cho thuê tài sản là số tiền cho thuê chưa có thuế GTGT. Trường hợp cho thuê theo hình thức trả tiền thuê từng kỳ hoặc trả trước tiền thuê cho một thời hạn thuê thì giá tính thuế là tiền cho thuê trả từng kỳ hoặc trả trước cho thời hạn thuê chưa có thuế GTGT. Giá cho thuê tài sản do các bên thỏa thuận được xác định theo hợp đồng. Trường hợp pháp luật có quy định về khung giá thuê thì giá thuê được xác định trong phạm vi khung giá quy định.
- Đối với hàng hóa bán theo phương thức trả góp, trả chậm là giá tính theo giá bán trả một lần chưa có thuế GTGT của hàng hoá đó, không bao gồm khoản lãi trả góp, lãi trả chậm. c 10 - Đối với gia công hàng hóa là giá gia công theo hợp đồng gia công chưa có thuế GTGT, bao gồm cả tiền công, chi phí về nhiên liệu, động lực, vật liệu phụ và chi phí khác phục vụ cho việc gia công hàng hoá. - Đối với xây dựng, lắp đặt, là giá trị công trình, hạng mục công trình hay phần công việc thực hiện bàn giao chưa có thuế GTGT.