Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Chính sách bảo hiểm xã hội (BHXH) giữ vai trò trụ cột trong hệ thống an sinh xã hội tại Việt Nam, liên tục được Đảng và Nhà nước hoàn thiện thông qua các văn bản pháp lý như Luật Bảo hiểm y tế sửa đổi năm 2013 và Luật Bảo hiểm xã hội sửa đổi năm 2014. Sự phát triển kinh tế - xã hội mở rộng quy mô thị trường lao động, gia tăng số người có việc làm và thu nhập, qua đó đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc xác định đúng vai trò và tác động của BHXH đối với đời sống người lao động. Nhằm thống nhất chính sách trên phạm vi toàn quốc ở mọi thành phần kinh tế, Quốc hội đã ban hành Luật Bảo hiểm xã hội ngày 29/06/2006 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2007).

Tuy nhiên, thực tiễn triển khai chính sách BHXH còn bộc lộ nhiều hạn chế, đặc biệt là trong công tác thu: số đơn vị và số lao động tham gia còn ít, tình trạng nợ đọng BHXH kéo dài gây ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi người lao động, mức tăng nguồn thu chưa tương xứng với tiềm năng phát triển. Tại tỉnh Yên Bái, công tác thu BHXH cũng gặp phải những tồn tại tương tự do công tác quản lý chưa thực sự phù hợp và sự phối hợp liên ngành còn thiếu đồng bộ. Hoạt động quản lý thu giữ vai trò quyết định, then chốt đối với việc tạo lập nguồn quỹ để chi trả các chế độ trong tương lai và bảo đảm ổn định đời sống xã hội. Xuất phát từ bối cảnh đó, đề tài "Công tác Quản lý thu BHXH tại BHXH tỉnh Yên Bái" được thực hiện.

Mục tiêu nghiên cứu:

  1. Làm rõ cơ sở lý luận về hoạt động thu bảo hiểm xã hội.
  2. Đánh giá một cách tổng quát và có hệ thống thực trạng quản lý thu bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Yên Bái giai đoạn 2014-2018.
  3. Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Yên Bái.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội tại cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh Yên Bái.
  • Phạm vi không gian: Tập trung nghiên cứu công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh Yên Bái.
  • Phạm vi thời gian: Thu thập và phân tích tài liệu, số liệu thứ cấp trong giai đoạn 5 năm từ năm 2014 đến năm 2018.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận xây dựng hệ thống luận cứ dựa trên khung pháp lý và các khái niệm chuẩn mực về an sinh xã hội:

  • Khái niệm và nguyên tắc: Theo Luật Bảo hiểm xã hội sửa đổi năm 2014, BHXH được định nghĩa là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH. Nền tảng hoạt động của BHXH dựa trên quan hệ lao động ba bên (Người lao động - Người sử dụng lao động - Cơ quan BHXH) và vận hành theo nguyên tắc "lấy của số đông bù cho số ít", có đóng có hưởng.
  • Khung văn bản pháp luật áp dụng: Luật BHXH năm 2006; Luật BHXH sửa đổi năm 2014 (Điều 4 quy định các chế độ BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện, BHTN); Nghị định số 12/CP ngày 26/01/1995 ban hành Điều lệ BHXH; Nghị định số 19/CP ngày 16/02/1995 thành lập BHXH Việt Nam; Quyết định số 128/QĐ-TCCB ngày 22/08/1995 thành lập BHXH tỉnh Yên Bái; Nghị định số 95/2013/NĐ-CP ngày 22/08/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH; Thông tư liên tịch số 03/2008/TTLT-BLĐTBXH-BTC-NHNN ngày 18/02/2008 về thủ tục buộc trích tiền từ tài khoản tiền gửi của người sử dụng lao động; Công văn số 2665/VPCP-KTTH ngày 04/04/2013 của Văn phòng Chính phủ về xử lý nợ BHXH, BHYT.

Phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp phân tích định lượng:
    • Phương pháp so sánh: Đối chiếu các chỉ tiêu kết quả hoạt động qua chuỗi thời gian 2014-2018 theo cùng nội dung kinh tế, đơn vị đo lường và phương pháp tính toán nhằm làm rõ xu hướng biến động.
    • Phương pháp phân tích tỷ lệ: Tính toán các tỷ số cơ cấu, tỷ lệ tăng trưởng liên hoàn và định gốc giữa các khối đơn vị sử dụng lao động để lượng hóa hiệu quả quản lý thu.
  • Phương pháp phân tích định tính: Kết hợp các tỷ số tính toán với đặc thù kinh tế - xã hội, địa hình miền núi và cơ chế tổ chức bộ máy của BHXH tỉnh Yên Bái để đưa ra các nhận định khách quan.
  • Phương pháp thu thập dữ liệu: Khai thác dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo thống kê, tổng kết công tác chuyên môn hàng năm của cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh Yên Bái, Cục Thống kê tỉnh Yên Bái và Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Yên Bái giai đoạn 2014-2018.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Lý luận chung về bảo hiểm xã hội và công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội

Chương này tập trung hệ thống hóa các vấn đề lý luận nền tảng:

  • Vai trò của BHXH: Khẳng định 4 vai trò chủ đạo gồm: (1) Trợ giúp người lao động gặp rủi ro sớm phục hồi sức khỏe và quay lại thị trường lao động; (2) Ổn định đời sống cho người lao động khi hết tuổi lao động hoặc suy giảm khả năng lao động; (3) Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, bảo đảm bình đẳng vị thế xã hội giữa các thành phần kinh tế; (4) Tái phân phối thu nhập quốc dân công bằng, giảm gánh nặng chi ngân sách nhà nước.
  • Các loại hình và chế độ BHXH: Phân định hai loại hình là BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện. Tại Việt Nam, Điều 4 Luật BHXH quy định các chế độ cụ thể gồm: BHXH bắt buộc (ốm đau; thai sản; tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; hưu trí; tử tuất); BHXH tự nguyện (hưu trí; tử tuất); Bảo hiểm thất nghiệp (trợ cấp thất nghiệp; hỗ trợ học nghề; hỗ trợ tìm việc làm).
  • Khái niệm và mục tiêu quản lý thu: Quản lý thu BHXH là quá trình cơ quan có thẩm quyền thực hiện và điều chỉnh các hoạt động thu nộp tiền đóng vào quỹ BHXH thông qua hệ thống pháp luật, các biện pháp hành chính, tổ chức và kinh tế. Mục tiêu cốt lõi bao gồm: thu đúng đối tượng, thu đủ số lượng và thu đúng thời hạn luật định.
  • Các nhân tố ảnh hưởng: Xác định 5 nhóm nhân tố chi phối công tác quản lý thu gồm: (1) Điều kiện kinh tế - xã hội (mức độ tăng trưởng, quy mô lao động, dân trí và ý thức tuân thủ pháp luật); (2) Khung khổ pháp lý và chính sách tiền lương của Nhà nước; (3) Trình độ, năng lực chuyên môn và đạo đức công vụ của đội ngũ cán bộ thu; (4) Cơ chế phối hợp liên ngành (giữa BHXH với Thuế, Kế hoạch và Đầu tư, Lao động - Thương binh và Xã hội, Tài chính, Thanh tra); (5) Cơ sở vật chất kỹ thuật và ứng dụng công nghệ thông tin.

Chương 2: Thực trạng công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Yên Bái

Chương 2 phản ánh toàn diện thực trạng tổ chức và kết quả thu BHXH bắt buộc tại Yên Bái giai đoạn 2014-2018:

1. Đặc điểm địa bàn và tổ chức bộ máy: Yên Bái là tỉnh miền núi gồm 9 đơn vị hành chính cấp huyện (1 thành phố, 1 thị xã, 7 huyện) với 180 xã/phường/thị trấn; trong đó có 70 xã vùng cao, 62 xã đặc biệt khó khăn và 2 huyện vùng cao nghèo nhất nước là Trạm Tấu và Mù Cang Chải (đồng bào dân tộc Mông chiếm trên 80%). Dân số năm 2018 là 804.000 người, mật độ trung bình 117 người/km².

Cơ quan BHXH tỉnh Yên Bái được tổ chức theo mô hình gồm Ban Giám đốc (4 người: 1 Giám đốc, 3 Phó Giám đốc), 11 phòng nghiệp vụ (106 người) và 9 cơ quan BHXH cấp huyện, thị xã, thành phố (154 người); tổng biên chế là 245 người.

2. Quản lý đối tượng tham gia và cấp sổ BHXH:

  • Tổng số đơn vị sử dụng lao động (SDLĐ) đăng ký tham gia BHXH bắt buộc tăng từ 2.276 đơn vị (năm 2014) lên 2.956 đơn vị (năm 2018), tăng 680 đơn vị. Giai đoạn 2014-2018 ghi nhận 1.210 đơn vị tăng mới với 16.651 lao động (bình quân 14 lao động/đơn vị, chủ yếu là doanh nghiệp ngoài quốc doanh vừa và nhỏ).
  • Số lao động tham gia BHXH bắt buộc tăng trưởng liên tục:
STT Loại hình đơn vị SDLĐ Năm 2014 (Người) Năm 2015 (Người) Năm 2016 (Người) Năm 2017 (Người) Năm 2018 (Người) Cơ cấu 2018 (%)
1 Doanh nghiệp nhà nước 3.319 3.494 3.678 4.230 4.596 7,56%
2 Doanh nghiệp ngoài quốc doanh 12.805 13.479 14.188 16.316 18.105 29,78%
3 Hành chính sự nghiệp 23.568 24.808 26.114 30.031 32.301 53,12%
4 Ngoài công lập 87 91 96 110 121 0,20%
5 Hợp tác xã 362 381 401 461 522 0,86%
6 Cán bộ xã, phường 2.642 2.781 2.927 3.366 3.474 5,71%
7 Hộ kinh doanh cá thể 1.280 1.347 1.418 1.631 1.695 2,79%
Tổng Toàn tỉnh 44.062 46.381 48.822 56.145 60.805 100,00%
  • Công tác cấp sổ BHXH ghi nhận số sổ cấp mới tăng từ 2.901 sổ (2014) lên 3.864 sổ (2018), nâng tổng số sổ lũy kế đã cấp lên 59.365 sổ vào năm 2018. Vẫn còn trường hợp một người lao động có từ 2 đến 3 sổ BHXH do dữ liệu chưa liên thông toàn quốc.

3. Quản lý quỹ tiền lương và phương thức thu:

  • Tổng quỹ tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc tăng từ 1.939.181 triệu đồng (năm 2014) lên 2.601.747 triệu đồng (năm 2018), tăng 662.566 triệu đồng. Năm 2018, khối Hành chính sự nghiệp (HCSN) chiếm tỷ trọng lớn nhất với 57,37% (1.492.653 triệu đồng), khối Doanh nghiệp ngoài quốc doanh (DNNQD) chiếm 25,72% (669.298 triệu đồng).
  • Phương thức luân chuyển tiền thu: Cơ quan BHXH cấp huyện mở 2 tài khoản chuyên thu tại Kho bạc Nhà nước huyện và Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn (Agribank) chi nhánh huyện. Toàn bộ tiền thu tại huyện được chuyển về tài khoản chuyên thu của BHXH tỉnh trước 15h00 hàng ngày, và số dư trên tài khoản BHXH tỉnh được tự động chuyển về tài khoản của BHXH Việt Nam trước 16h00 hàng ngày, tuyệt đối không giữ lại để chi trả trực tiếp.

4. Kết quả thu và nợ đọng BHXH:

  • Kết quả thu BHXH bắt buộc liên tục gia tăng:
STT Loại hình đơn vị SDLĐ Năm 2014 (Tr.đồng) Năm 2015 (Tr.đồng) Năm 2016 (Tr.đồng) Năm 2017 (Tr.đồng) Năm 2018 (Tr.đồng) Tỷ trọng 2018 (%)
1 Doanh nghiệp nhà nước 167.233 193.740 198.048 223.698 233.461 18,00%
2 Ngoài quốc doanh 185.803 215.266 220.053 248.554 259.401 20,00%
3 HCSN, Đảng, Đoàn thể 418.057 484.349 495.120 559.246 583.651 45,00%
4 Ngoài công lập 18.580 21.527 22.005 24.855 25.940 2,00%
5 Hợp tác xã 27.870 32.290 33.008 37.283 38.910 3,00%
6 Xã, phường 92.902 107.633 110.027 124.277 129.700 10,00%
7 Hộ kinh doanh cá thể 18.580 21.527 22.005 24.855 25.940 2,00%
Tổng Số thu thực tế 929.016 1.076.331 1.100.266 1.242.769 1.297.003 100,00%
  • Tình hình nợ đọng BHXH: Năm 2014, số nợ ở mức cao đột biến là 31.694 triệu đồng (tỷ lệ nợ/số phải thu là 2,89%) do nhiều đơn vị giải thể, phá sản (Lâm trường, xây dựng, thủy điện, doanh nghiệp thuộc Vinashin). Đến năm 2018, số nợ là 25.466 triệu đồng, trong đó khối DNNQD chiếm tỷ trọng lớn nhất với 13.814 triệu đồng, khối Doanh nghiệp nhà nước (DNNN) nợ 6.985 triệu đồng.
  • Một số doanh nghiệp có số nợ lớn kéo dài điển hình gồm:
    • Công ty TNHH Vật tư tổng hợp Cửu Long Vinashin: nợ 70 tháng, số tiền 1,072 tỷ đồng.
    • Công ty Cổ phần Xi măng và Khoáng sản Yên Bái: nợ 26 tháng, số tiền 2,2 tỷ đồng.
    • Công ty Cổ phần Xây lắp Thủy lợi Thủy điện: nợ 68 tháng, số tiền 1,232 tỷ đồng.
    • Công ty Cổ phần Đường sắt Yên Lào: nợ 20 tháng, số tiền 2,7 tỷ đồng.
    • Công ty Cổ phần Xây lắp và Sản xuất Công nghiệp: nợ 24 tháng, số tiền 3,5 tỷ đồng.
  • Công tác thanh tra, xử lý vi phạm: Tính đến hết tháng 12/2018, đoàn thanh tra liên ngành (Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, BHXH tỉnh, Liên đoàn Lao động tỉnh) đã tổ chức 153 cuộc thanh tra, thu hồi 15,7 tỷ đồng nợ đọng; phát hiện xuất toán chi sai khám chữa bệnh BHYT 385 triệu đồng.

Chương 3: Đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp hoàn thiện quản lý thu bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Yên Bái

1. Đánh giá ưu điểm:

  • Mở rộng diện bao phủ đối tượng và nâng cao số thu đều đặn qua từng năm, luôn hoàn thành và vượt chỉ tiêu BHXH Việt Nam giao.
  • Ứng dụng công nghệ thông tin trong các khâu quản lý thu, cấp phát sổ và vận hành cổng thông tin điện tử, phục vụ cải cách hành chính.
  • Tăng cường đối thoại doanh nghiệp, tuyên truyền nâng cao nhận thức của người sử dụng lao động và người lao động.

2. Đánh giá tồn tại và nguyên nhân:

  • Tình trạng trốn đóng và nợ đọng kéo dài còn phổ biến, đặc biệt tại khối DNNQD. Tính đến ngày 31/12/2018, tổng số tiền nợ BHXH trên địa bàn là trên 25,027 tỷ đồng (chiếm 1,74% kế hoạch thu do BHXH Việt Nam giao).
  • Tỷ lệ khai thác đơn vị mới còn thấp: Năm 2018 Sở Kế hoạch và Đầu tư cấp phép kinh doanh cho 529 đơn vị mới nhưng chỉ có 336 đơn vị đăng ký tham gia BHXH (đạt 63,5%).
  • Doanh nghiệp tìm cách lách luật bằng cách chia nhỏ hợp đồng lao động thành nhiều bản phụ lục để giảm mức lương căn cứ đóng BHXH.
  • Chế tài pháp lý chưa đủ sức răn đe: Nghị định số 95/2013/NĐ-CP quy định mức phạt chậm đóng từ 12-15% tổng số tiền nợ nhưng khống chế mức tối đa không quá 75 triệu đồng; cơ quan BHXH không có thẩm quyền xử phạt trực tiếp mà phải thông qua Thanh tra Sở Lao động - Thương binh và Xã hội (lực lượng thanh tra mỏng); việc cưỡng chế trích tiền từ tài khoản ngân hàng theo Thông tư liên tịch số 03/2008/TTLT và Công văn số 2665/VPCP gặp trở ngại do khó kiểm soát tài khoản; công tác khởi kiện tư pháp gặp vướng mắc ở khâu thi hành án do doanh nghiệp thay đổi địa chỉ hoặc đóng tài khoản.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

  • Tổng số đơn vị tham gia BHXH bắt buộc tăng từ 2.276 đơn vị (2014) lên 2.956 đơn vị (2018), tăng ròng 680 đơn vị.
  • Số lao động tham gia BHXH bắt buộc tăng từ 44.062 người (2014) lên 60.805 người (2018), tăng 16.743 người (tăng 38,0%). Khối Hành chính sự nghiệp và Doanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm cơ cấu áp đảo với tổng tỷ trọng trên 82%.
  • Tổng số thu BHXH bắt buộc tăng từ 929.016 triệu đồng (2014) lên 1.297.003 triệu đồng (2018), tăng thêm 367.987 triệu đồng (+39,6%).
  • Quỹ tiền lương làm căn cứ đóng tăng từ 1.939.181 triệu đồng lên 2.601.747 triệu đồng (+662.566 triệu đồng).
  • Thu hồi 15,7 tỷ đồng nợ đọng BHXH thông qua 153 cuộc thanh tra liên ngành tính đến cuối năm 2018.

Giải pháp tác giả đề xuất

  • Đẩy mạnh phối hợp liên ngành (BHXH - Thuế - Sở Kế hoạch và Đầu tư - Sở Lao động - Thương binh và Xã hội) nhằm rà soát chính xác số doanh nghiệp đăng ký kinh doanh và quản lý chặt chẽ số lao động thực tế.
  • Tăng cường kiểm tra, đối chiếu bảng lương thực tế với sổ sách kê khai của doanh nghiệp nhằm ngăn chặn hành vi chia nhỏ hợp đồng thành phụ lục lương để trốn đóng.
  • Nâng cao chất lượng và tính chuyên trách của đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế, thanh tra và khởi kiện tại cơ quan BHXH.
  • Công khai danh tính các đơn vị chây ỳ, nợ đọng kéo dài trên các phương tiện thông tin đại chúng; kiến nghị nâng mức phạt vi phạm hành chính và hoàn thiện cơ chế cưỡng chế trích nợ qua tài khoản ngân hàng.
  • Hoàn thiện hệ thống hạ tầng công nghệ thông tin liên thông dữ liệu sổ BHXH giữa địa phương với BHXH Việt Nam và các cơ quan hành chính trên địa bàn.

Đóng góp của đề tài

  • Hệ thống hóa toàn diện bức tranh số liệu thực tế về thu, nợ đọng và quản lý quỹ tiền lương BHXH bắt buộc tại một tỉnh miền núi phía Bắc có địa bàn phức tạp giai đoạn 2014-2018.
  • Chỉ ra các kẽ hở thực tiễn trong quản lý tiền lương đóng BHXH (hành vi tách phụ lục hợp đồng) và các rào cản hành chính - pháp lý khi cưỡng chế thu hồi nợ đọng theo quy định hiện hành.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi nghiên cứu của khóa luận mới chỉ tập trung vào phân hệ BHXH bắt buộc tại cơ quan BHXH tỉnh Yên Bái, chưa phân tích chuyên sâu phân hệ BHXH tự nguyện và BHYT hộ gia đình; dữ liệu khảo sát dừng lại ở mốc năm 2018; nguồn dữ liệu hoàn toàn dựa vào báo cáo thống kê hành chính thứ cấp, chưa tiến hành điều tra bảng hỏi diện rộng đối với người lao động tại các doanh nghiệp.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu công tác quản lý thu BHXH tự nguyện đối với lao động phi chính thức tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số; đánh giá tác động của việc đồng bộ hóa mã số định danh và cơ sở dữ liệu BHXH quốc gia đến hiệu quả giảm trừ nợ đọng và ngăn ngừa trùng sổ BHXH.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên các ngành Bảo hiểm, Quản lý công, Quản trị nhân lực, Tài chính công và Luật kinh tế khi nghiên cứu về quản lý tài chính an sinh xã hội tại cấp tỉnh:

  • Phần thực trạng (Chương 2): Cung cấp hệ thống bảng biểu chi tiết về biến động lao động, quỹ lương, kết quả thu và phân tích nợ đọng theo từng thành phần kinh tế.
  • Quy trình luân chuyển dòng tiền: Mô tả cụ thể cơ chế quản lý tài khoản chuyên thu giữa hệ thống cấp huyện, cấp tỉnh và tài khoản trung ương mở tại Kho bạc Nhà nước và Ngân hàng Agribank.
  • Bài học kinh nghiệm: Cung cấp dẫn chứng thực tế về các chiêu thức trốn đóng BHXH của doanh nghiệp và quy trình phối hợp xử lý nợ qua thanh tra liên ngành.

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ cấu tổ chức bộ máy và nhân sự của Bảo hiểm xã hội tỉnh Yên Bái được phân bổ như thế nào?
Cơ quan BHXH tỉnh Yên Bái gồm 245 cán bộ, công chức, viên chức. Bộ máy tổ chức gồm: Ban Giám đốc (4 người: 1 Giám đốc, 3 Phó Giám đốc), 11 phòng nghiệp vụ chuyên môn tại tỉnh (106 người) và 9 cơ quan BHXH cấp huyện, thị xã, thành phố (154 người).

2. Trong giai đoạn 2014-2018, khối đơn vị sử dụng lao động nào chiếm tỷ trọng lao động và nguồn thu lớn nhất tại Yên Bái?
Khối Hành chính sự nghiệp (HCSN, Đảng, Đoàn thể) chiếm tỷ trọng lớn nhất, với 32.301 lao động tham gia năm 2018 (chiếm 53,12% tổng số lao động) và đóng góp 583.651 triệu đồng tiền thu (chiếm 45,0% tổng số thu toàn tỉnh). Khối Doanh nghiệp ngoài quốc doanh đứng thứ hai với 18.105 lao động (chiếm 29,78%) và đóng góp 259.401 triệu đồng (chiếm 20,0%).

3. Khung thời gian luân chuyển tiền thu BHXH từ cấp huyện về Trung ương được quy định cụ thể ra sao?
Tiền thu đóng BHXH tại 2 tài khoản chuyên thu cấp huyện (mở tại Kho bạc Nhà nước và Agribank) phải được chuyển hết về tài khoản chuyên thu của BHXH tỉnh trước 15h00 hàng ngày. Toàn bộ số dư trên tài khoản chuyên thu của BHXH tỉnh tự động chuyển khoản về tài khoản tiền gửi của BHXH Việt Nam trước 16h00 hàng ngày, tuyệt đối không giữ lại tại địa phương để chi trả.

4. Những doanh nghiệp nào có số nợ tiền đóng BHXH lớn và kéo dài điển hình tại Yên Bái tính đến năm 2018?
Văn bản chỉ rõ 5 doanh nghiệp nợ đọng kéo dài: (1) Công ty TNHH Vật tư tổng hợp Cửu Long Vinashin (nợ 70 tháng, 1,072 tỷ đồng); (2) Công ty Cổ phần Xi măng và Khoáng sản Yên Bái (nợ 26 tháng, 2,2 tỷ đồng); (3) Công ty Cổ phần Xây lắp Thủy lợi Thủy điện (nợ 68 tháng, 1,232 tỷ đồng); (4) Công ty Cổ phần Đường sắt Yên Lào (nợ 20 tháng, 2,7 tỷ đồng); (5) Công ty Cổ phần Xây lắp và Sản xuất Công nghiệp (nợ 24 tháng, 3,5 tỷ đồng).

5. Vì sao chế tài xử phạt theo Nghị định 95/2013/NĐ-CP chưa đủ sức ngăn chặn tình trạng nợ đọng BHXH tại địa phương?
Nghị định số 95/2013/NĐ-CP quy định mức phạt chậm đóng bằng 12-15% tổng số tiền phải đóng nhưng mức phạt tối đa bị khống chế không quá 75 triệu đồng. Mức phạt này thấp hơn nhiều so với lợi nhuận từ việc chiếm dụng vốn, khiến nhiều doanh nghiệp chấp nhận nộp phạt hành chính để tiếp tục quay vòng vốn BHXH vào hoạt động sản xuất kinh doanh; đồng thời cơ quan BHXH không có quyền xử phạt trực tiếp mà phải phụ thuộc vào lực lượng thanh tra chuyên ngành còn mỏng của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội.


Kết luận

Khóa luận đã khái quát hóa cơ sở lý luận và phản ánh chi tiết thực trạng công tác quản lý thu BHXH bắt buộc tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Yên Bái giai đoạn 2014-2018 với chuỗi số liệu thứ cấp đầy đủ. Dù công tác phát triển đối tượng và tổng số thu hàng năm đều tăng trưởng vượt kế hoạch, địa phương vẫn phải đối mặt với áp lực nợ đọng lớn ở khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh, tình trạng lách luật chia nhỏ phụ lục hợp đồng lao động và những bất cập trong cơ chế cưỡng chế tài chính. Các giải pháp do tác giả đề xuất về thanh tra liên ngành, hoàn thiện chế tài pháp lý và tích hợp cơ sở dữ liệu công nghệ thông tin mang tính thực tiễn cao đối với công tác an sinh xã hội tại địa bàn miền núi.