Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUẢN LÝ THÔNG TIN HÌNH ẢNH VIDEO, MEDIA TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ VIỆT NAM HIỆN NAY 1. Một số khái niệm liên quan 1. Quản lý Trên thực tế, Quản lý có nhiều định nghĩa, quan niệm và cách tiếp cận các định nghĩa, quan niệm về quản lý cũng khác nhau. Một trong số những khái niệm đó là: Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng, có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý để chỉ huy, điều khiển, liên kết các yếu tố tham gia vào hoạt động thành một chỉnh thể thống nhất, điều hoà hoạt động của các khâu một cách hợp quy luật nhằm đạt đến mục tiêu xác định.
Các yếu tố của quản lý gồm có: Chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, nội dung và phương thức quản lý. Trong đó chủ thể và đối tượng là những yếu tố quan trọng nhất cấu thành hoạt động quản lý. Chủ thể quản lý là nhân tố có một quyền lực nhất định, tạo ra các tác động quản lý. Chủ thể quản lý tồn tại ở nhiều quy mô và tầng nấc khác nhau với những phẩm chất và năng lực nhất định và lợi ích xác định.
Đối tượng quản lý là những người tiếp nhận các tác động quản lý và có thể tham gia ở mức độ nhất định vào việc tạo lập các tác động quản lý. Đó là những con người có khả năng tự điều chỉnh hành vi của mình với những phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu thực hiện các hành vi hợp pháp, hợp lý. Ngoài ra, đối tượng quản lý có thể là một tổ chức xác định. Thông tin hình ảnh Thông tin là sự thông báo, trao đổi, giải thích về một đối tượng cụ thể nào đó và được thể hiện thông qua các dạng tín hiệu như âm thanh, chữ số, chữ viết… nhằm mang lại một sự hiểu biết nào đó cho đối tượng nhận tin.
11 Trong bài giảng kịch học điện ảnh và truyền hình, tác giả Nguyễn Hậu đã đưa ra cách tiếp cận thuật ngữ hình ảnh, như sau: Hình ảnh có nguồn gốc từ tiếng Latin “Imago” và có quan hệ mật thiết với một từ Latin khác là “Imatari”- dùng để chỉ sự mô phỏng, phỏng theo.85] Trong từ điển Tiếng Việt của GS. Hoàng Phê (chủ biên), khái niệm về hình ảnh là: “Là hình người, hình vật, cảnh tượng thu được bằng khí cụ quang học như máy ảnh để lại ấn tượng nhất định và tái hiện được trong trí óc, là khả năng gợi tả sống động trong các diễn đạt” [24, tr. Từ hai khái niệm trên, ta có thể hiểu, dù bất kỳ thể loại nào thì yếu tố thông tin cũng là cái có trước, nó mang tính trực tiếp và thể hiện ngay tầng nhận thức thứ nhất. Hình ảnh là những ký hiệu nhân tạo nhằm giúp ta hiểu được chính mình, hiểu được hành vi của ta và tính chất phức tạp của thế giới chúng ta đang sống được thêu dệt vào ngôn ngữ, những ký hiệu bằng hình ảnh và ngôn ngữ ấy trở thành một thứ hoa gấm của nhiều nền văn hoá khác.
Suốt một thời gian dài, những ký hiệu đó là công cụ cơ bản mà con người sử dụng để truyền thông và học hỏi. Hay xét trên một khía cạnh khác, hình ảnh được bày ra trước mắt độc giả thông qua các chi tiết được mô tả trong lời nói và những lời bình luận. Đây là điểm mạnh riêng biệt chỉ phát thanh mới có. Nếu hàm lượng thông tin ấy mang đến cho người xem càng nhiều thông điệp, càng lý giải được nhiều câu hỏi của người xem thì hình ảnh đó càng có giá trị.
Từ những khái niệm trên, tác giả rút ra khái niệm Quản lý thông tin hình ảnh: là hoạt động tổ chức kiểm soát hình ảnh, nội dung và hình thức của hình ảnh trên các chuyên mục Video, media đảm bảo theo đúng tiêu chí, tôn chỉ mục đích. Việt kiểm soát được việc sử dụng hình ảnh đúng mục đích sẽ giúp cho chủ thể quản lý tránh được những sai phạm, vi phạm các quy định của pháp luật, hạn chế được những vấn đề nhạy cảm, đặc biệt khi đăng tải hình ảnh về 12 những người yếu thế: trẻ em, phụ nữ, người dân tộc thiểu số, người khuyết tật… Bởi nó có thể làm ảnh hưởng tới dư luận xã hội, đặc biệt là chính đối tượng yếu thế được phản ánh. Theo hiểu biết và kinh nghiệm làm việc trong môi trường báo chí của tác giả, để quản lý thông tin hình ảnh, cần phải đảm bảo một số yêu cầu sau: (1) Hình ảnh được sử dụng trước hết phải đảm bảo tính thẩm mĩ, tức phải đẹp, rõ ràng, sắc nét, có nội dung, có tính biểu đạt cao, có giá trị nghệ thuật; (2) Hình ảnh đảm bảo phải tránh để bị suy diễn làm sai lệch mục đích truyền thông, tức hình ảnh đó phải chứa nội dung thông tin nhất định, không mập mờ, bị cắt gọt vì các mục đích khác. (3) Các thông tin hoặc thông điệp của hình ảnh khi được đăng tải trên các kênh truyền thông phải dễ hiểu, dễ nhớ và có chủ đề rõ ràng.
Báo mạng điện tử và chuyên mục Video, Media * Báo mạng điện tử Theo cuốn Báo mạng điện tử - những vấn đề cơ bản của tác giả Nguyễn Thị Trường Giang, trên thế giới và ở Việt Nam đang tồn tại nhiều tên gọi khác ngoài tên gọi báo mạng điện tử như: báo điện tử, báo trực tuyến, báo mạng, báo chí Internet. Ở Việt Nam, thuật ngữ báo mạng điện tử được sử dụng khá phổ biến, chẳng hạn báo Nhân dân điện tử, Lao động điện tử, Thanh niên điện tử,… ngoài ra còn nhiều tên gọi khác như: báo mạng, báo chí internet, báo trực tuyến, BMĐT… Theo Điều 20, Nghị định số 72/2013/NĐ-CP ngày 15/7/2013 của Chính phủ quy định về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng, báo mạng điện tử là một trong 5 loại của trang tin điện tử, gồm: Báo mạng điện tử, Trang thông tin điện tử tổng hợp, Trang thông tin điện tử nội bộ, Trang thông tin điện tử cá nhân và Trang thông tin điện tử ứng dụng chuyên ngành. 13 Ngoài thuật ngữ “online newspaper” được sử dụng rộng rãi trên trong các công trình nghiên cứu báo chí học, nhất là trong lĩnh vực truyền thông mới để chỉ các khái niệm cùng đặc tính như: online publishing (xuất bản trực tuyến), online media (phương tiện truyền thông trực tuyến), online journalist (nhà báo trực tuyến), online radio (phát thanh trực tuyến), online television (truyền hình trực tuyến). Có nhiều cách hiểu và khái niệm khác nhau về báo mạng điện tử: Theo Luật Báo chí 2016 định nghĩa: “Báo mạng điện tử là loại hình báo chí sử dụng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được truyền dẫn trên môi trường mạng, gồm báo mạng điện tử và tạp chí điện tử.” [27, tr2] Tác giả Trần Quang Huy định nghĩa: “BMĐT là một loại hình báo chí mới, có khả năng cung cấp thông tin sống động bằng chữ viết và âm thanh chỉ trong vài phút đến vài giây, với số trang không hạn chế.
Báo mạng điện tử là hình thức báo chí được khai sinh ra từ sự kết hợp những ưu thế của báo in, báo nói, báo hình, sử dụng yếu tố công nghệ cao như một nhân tố quyết định, quy trình sản xuất và truyền tải thông tin dựa trên nền tảng mạng Internet toàn cầu” [15, tr.12] Theo tác giả Nguyễn Thị Trường Giang (2010): “BMĐT là một loại hình báo chí được xây dựng dưới hình thức của một trang web và phát hành trên mạng Internet”.25] Như vậy, ở Việt Nam có ít nhất 3 khái niệm được dùng thông dụng là: Báo điện tử, BMĐT, báo trực tuyến, báo Internet. Việc phân tích và sử dụng các khái niệm này gắn với nhận thức và tư duy tổ chức, tư duy tác nghiệp loại hình báo chí này. Trong luận văn này, tác giả sử dụng khái niệm BMĐT như sau: BMĐT là một loại hình báo chí được xây dựng dưới hình thức của một trang web, phát hành trên mạng Internet, có ưu thế trong chuyển tải thông tin một cách nhanh chóng, tức thời, đa phương tiện và tương tác cao. 14 * Chuyên mục Video, Media Để nói về chuyên mục video, media trong báo mạng điện tử thì trước hết phải đề cập đến một vấn đề chính là ngôn ngữ đa phương tiện của báo mạng điện tử.
Nếu như trong báo in, độc giả chỉ có thể tiếp nhận thông tin bằng mắt, và tưởng tượng sự kiện qua con chữ; báo phát thanh chỉ cho phép tiếp cận thông tin bằng thính giác; hoặc kể cả truyền hình có phần linh hoạt hơn, công chúng được tiếp nhận thông tin bằng ngôn ngữ hình ảnh, lời nói cùng âm thanh sống động nhưng vẫn phải tuân theo thời gian tuyến tính hay nói cách khác là công chúng chỉ có thể tiếp nhận thông tin một cách tức thời mà không có khả năng xem lại những nội dung chưa hiểu… thì với báo mạng điện tử, chữ viết, hình ảnh (động và tĩnh), tiếng động, âm thanh. đều có thể chuyển hóa thành ngôn ngữ thông tin. Trên tác phẩm báo mạng điện tử, công chúng có thể tiếp cận thông tin bằng cả ba cách: đọc, nghe, xem… Có thể nói, ngôn ngữ của báo mạng điện tử là ngôn ngữ đa phương tiện, và chính điều này tạo ra lượng thông tin phong phú, hấp dẫn; công chúng vừa được thu nhận, vừa được quyền chủ động tiếp nhận theo cách riêng của mình. Sự ra đời của World wide web vào đầu những năm 1990 đã đánh dấu sự xuất hiện của tính đa phương tiện trên báo mạng điện tử.
Sự phát triển vượt trội của công nghệ và lập trình đã giúp số lượng các “phương tiện” được tích hợp trên các trang web ngày một phong phú: âm thanh (audio), hình ảnh động (video & animation), văn bản (text), hình ảnh tĩnh và đồ họa (still image & graphic) và các chương trình tương tác (interactive program). - Chữ viết (text) là thành phần cơ bản của báo điện từ, dùng để mô tả sự kiện, hiện tượng thông qua chuỗi lời nói được biểu thị bằng những ký hiệu viết - đồ hình. Đôi khi nó là thành phần thuần túy của bài viết, có lúc chỉ là một phần. Nó thường được dùng khi nhà báo không thể truyền tải thông tin qua video, audio, ảnh hoặc các ngôn ngữ phi văn tự khác.
15 - Hình ảnh tĩnh ghi lại một lát cắt của sự kiện. Nó làm nổi bật cảm xúc, nhấn mạnh một ý nào đó trong bài báo và dễ tạo cảm xúc đặc biệt gây ấn tượng mạnh và in sâu trong tâm trí người xem hơn là chữ viết.