Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý thông điệp đại đoàn kết dân tộc đối với NVNONN trên báo mạng điện tử hiện nay. Chương 2: Thực trạng quản lý thông điệp đại đoàn kết dân tộc đối với người Việt Nam trên các báo mạng điện tử thuộc diện khảo sát. Chương 3: Những vấn đề đặt ra và giải pháp tăng cường quản lý thông điệp đại đoàn kết dân tộc đối với NVNONN trên báo mạng điện tử hiện nay. 11 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THÔNG ĐIỆP ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC ĐỐI VỚI NGƢỜI VIỆT NAM Ở NƢỚC NGOÀI TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ HIỆN NAY 1.
Một số khái niệm liên quan tới đề tài 1. Quản lý thông điệp * Quản lý Quản lý là một nội dung được nghiên cứu rất phổ biến và rộng rãi trên thế giới cũng như tại Việt Nam, vì vậy có nhiều cách tiếp cận và có nhiều định nghĩa, quan niệm khác nhau. Từ điển tiếng Việt định nghĩa, quản lý là “trông nom, coi giữ” là “trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định, là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [56, tr. Như vậy, theo khái niệm này, quản lý là chức năng vốn có của mọi tổ chức, mọi hành động của các cá nhân, các bộ phận trong tổ chức có sự điều khiển từ trung tâm, nhằm thực hiện mục tiêu chung của tổ chức.
Theo các nhà khoa học, quản lý là đối tượng, phạm trù nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, bao gồm cả khoa học khoa học xã hội và khoa học tự nhiên. Mỗi ngành khoa học nghiên cứu về quản lý từ phạm trù riêng và đưa ra định nghĩa về quản lý. Theo điều khiển học, quản lý là chỉ đạo, điều khiển một quá trình hoặc một hệ thống, căn cứ vào pháp luật và các quy định hay nguyên tắc tương ứng để vận hành hệ thống hay quá trình đó theo mong muốn của các đối tượng quản lý nhằm đạt được những mục đích đã đề ra. Xét từ góc độ khoa học xã hội, quản lý là một yếu tố khách quan của tất cả các quá trình lao động xã hội.
Dù là dưới hình thái xã hội nào, quản lý là rất cần thiết đối với mọi lĩnh vực hoạt động xã hội, là một yếu tố vô cùng quan trọng và mang tính chất quyết định nhất đến sự phát triển của mỗi tổ 12 chức ở phạm trù hẹp, hay mỗi quốc gia ở phạm vi rộng. Như vậy, có thể hiểu từ góc độ khoa học xã hội là quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đối với đối tượng quản lý nhằm chỉ đạo, hướng dẫn, điều hành các quá trình xã hội và hành vi của cá nhân hướng tới các mục đích hoạt động chung, phù hợp với các quy luật khách quan. Tác giả Nguyễn Vũ Tiến trong cuốn Giáo trình Khoa học quản lý nêu định nghĩa rằng: “Quản lý là sự tác động một cách có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt các mục tiêu đã đề ra” [4, tr. Dựa trên các phân tích trên đây, có thể đưa ra khái niệm khái quát nhất về quản lý: Quản lý là sự tác động một cách có tổ chức có định hướng với nội dung và phương thức quản lý cụ thể của chủ thể quản lý đối với khách thể quản lý để sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực của tổ chức đó nhằm đạt được các mục tiêu đặt ra trong môi trường luôn biến động.
Như vậy quá trình quản lý được thực hiện thông qua hai đối tượng nhất định: chủ thể quản lý (bên đưa ra quyết định quản lý) và khách thể quản lý (bên chịu sự tác động những quyết định của phía chủ thể quản lý). * Thông điệp Trong cuốn Truyền thông đại chúng, tác giả Tạ Ngọc Tấn đưa ra định nghĩa: “Thông điệp là những nội dung thông tin được trao đổi từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận” [35, tr. Trong Truyền thông - lý thuyết và kỹ năng cơ bản, tác giả Nguyễn Văn Dững và Đỗ Thị Thu Hằng cho rằng: “Thông điệp chính là những tâm tư, tình cảm, mong muốn, đòi hỏi, ý kiến, hiểu biết, kinh nghiệm sống, tri thức khoa học kỹ thuật… được mã hóa theo một hệ thống kí hiệu nào đó. Hệ thống này được cả hai bên phát và bên nhận cùng chấp nhận và có chung cách hiểu - tức là có khả năng giải mã” [13, tr.
Từ những quan niệm và định nghĩa trên, tác giả đưa ra khái niệm về 13 thông điệp như sau: Thông điệp là một hệ thống các ký hiệu hàm chứa nội dung thông tin cụ thể được trao đổi từ nguồn phát đối đối tượng tiếp nhận. Trong báo chí, thông điệp là thuật ngữ có tính đa nghĩa, được thể hiện bằng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, lời nói, ký tự. Thông điệp được xem là một phát ngôn đầy đủ cả về nội dung và hình thức dành cho một nhóm đối tượng cụ thể trong một hoàn cảnh nào đó, trong đó người tiến hành chiến dịch truyền thông muốn chuyển tải tới công chúng với mục đích nhất định. Nội dung thông điệp phải cụ thể, rõ ràng, bằng các phương thức truyền thông mà cả người cung cấp và đối tượng tiếp nhận đều hiểu được ý nghĩa của nó.
* Quản lý thông điệp Từ các khái niệm “quản lý” và “thông điệp”, tác giả đưa ra khái niệm như sau: Quản lý thông điệp là quá trình tác động có tổ chức, định hướng với nội dung và phương thức quản lý cụ thể của chủ thể chiến dịch hay phương tiện truyền thông đến các nguồn lực tạo ra thông điệp nhằm đạt được các mục tiêu truyền thông đề ra. Đại đoàn kết dân tộc Từ điển Tiếng Việt của Trung tâm từ điển học và NXB Giáo dục xuất bản năm 1994 và các từ điển khác đã đưa ra khái niệm: “Đoàn kết là kết thành một khối thống nhất, cùng hoạt động vì một mục đích chung” và “Đại đoàn kết là đoàn kết rộng rãi”. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng đưa ra khái niệm về đại đoàn kết dân tộc, trên cơ sở thừa kế truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc, thừa kế các tinh hoa văn hoá nhân loại, lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và thực tiễn lãnh đạo tiến trình xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, như sau: Đại đoàn kết trước hết phải đoàn kết với đại đa số nhân dân tức công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác. Đó là nền gốc của đại đoàn kết.
Nó cũng như cái nền của nhà, gốc của cây. Nhưng đã có nền vững và gốc tốt còn phải đoàn kết với các tầng lớp nhân dân khác. Bất kỳ ai mà thật thà tán thành hoà 14 bình, thống nhất, độc lập, dân chủ thì dù những người đó trước đây chống chúng ta, bây giờ chúng ta cũng thật thà đoàn kết với họ. Như vậy, đại đoàn kết dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh là đại đoàn kết các dân tộc, giai cấp, mọi giới, mọi lứa tuổi, mọi vùng của đất nước, đoàn kết mọi thành viên trong đại gia đình dân tộc Việt Nam dù sống trong nước hay định cư ở nước ngoài thành một khối vững chắc trên cơ sở thống nhất về mục tiêu chung và những lợi ích căn bản.
Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, với tinh thần nhân văn cao cả và nhãn quan chính trị sắc bén, Chủ tịch Hồ Chí Minh không ngừng xây dựng và hoàn thiện tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc, truyền bá và giáo dục tư tưởng đó trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân. Người nhận thức sâu sắc đoàn kết là để tạo nên sức mạnh quyết định thắng lợi trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù. Thực tế lịch sử đã chứng minh: Nhờ sức mạnh của đại đoàn kết mà cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, đã đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Quan điểm, chủ trương của Đảng về đại đoàn kết dân tộc đối với NVNONN được thể hiện nhất quán, xuyên suốt trong tất cả các văn bản chỉ đạo của Đảng từ Nghị quyết 23-NQ/TW về công tác đại đoàn kết, đến Nghị quyết 36-NQ/TW, Chỉ thị 45-CT/TW và Kết luận 12-KL/TW của Bộ Chính trị về công tác NVNONN.
Nghị quyết 23-NQ/TW về công tác đại đoàn kết đã nêu rõ quan điểm: Đại đoàn kết toàn dân tộc lấy mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất của Tổ quốc, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh làm điểm tương đồng, xoá bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử về quá khứ, thành phần, giai cấp, xây dựng tinh thần cởi mở, tin cậy lẫn nhau, cùng hướng tới tương lai. Kể từ khi Nghị quyết 23-NQ/TW được ban hành năm 2003, nhận thức về vai trò và tầm quan trọng của NVNONN trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng được nâng cao, công tác NVNONN ngày càng nhận được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo và sự tham gia mạnh mẽ 15 của các ban, bộ, ngành, địa phương. Công tác đại đoàn kết, vận động cộng đồng hướng về quê hương, đất nước, thu hút nguồn lực NVNONN đạt được những kết quả quan trọng. Kết luận 12-KL/TW ngày 12/8/2021 của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới đã nêu rõ cần tiếp tục nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm trong việc thực hiện có hiệu quả chủ trương đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng, Nhà nước đối với đồng bào Việt Nam ở nước ngoài.
Đổi mới, đa dạng hoá các hình thức, linh hoạt trong triển khai vận động người Việt Nam ở nước ngoài, nhất là thế hệ trẻ, gắn bó với quê hương, đóng góp tích cực vào sự phát triển của nước sở tại, trở thành cầu nối, góp phần thúc đẩy quan hệ tốt đẹp giữa Việt Nam với các nước. Kết luận 12 cũng nhấn mạnh tới nhiệm vụ phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, khuyến khích và tạo điều kiện để đồng bào Việt Nam ở nước ngoài đóng góp tích cực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, cải cách thủ tục hành chính và triển khai đồng bộ các chính sách liên quan đến người Việt Nam ở nước ngoài khi về nước làm việc, thường trú; tạo điều kiện thuận lợi để người Việt Nam ở nước ngoài về nước đầu tư, sản xuất, kinh doanh.