Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VIỆC THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG WEBSITE HỌC TẬP 1.Tổng quan vấn đề nghiên cứu Ở nƣớc ta ứng dụng CNTT & TT trong dạy học đƣợc đề cập vào những năm 90 và hiện đang tiếp tục đƣợc nghiên cứu, ứng dụng trong giảng dạy ở mọi cấp học của hệ thống giáo dục. Đã có một số đề tài nghiên cứu về ứng dụng Website học tập trong giảng dạy, bƣớc đầu thu đƣợc những kết quả hết sức khả quan. Năm 2007 học viên Nguyễn Đăng Châu đã bảo vệ thành công luận văn thạc sỹ QLGD với đề tài: “Một số biện pháp quản lý việc thiết kế và sử dụng trang Web học tập trong môi trường dạy học đa phương tiện nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở trường cao đẳng Tài nguyên và Môi trường Hà Nội” Năm 2007 học viên Nguyễn Hoàng Phƣơng đã bảo vệ thành công luận văn thạc sỹ QLGD với đề tài: “Áp dụng phương pháp dạy học chương trình hóa trong dạy học Tiểu học kết hợp với việc thiết kế và sử dụng trang Web học tập”. Năm 2008 học viên Lê Khắc Quyền đã bảo vệ thành công luận văn thạc sỹ QLGD với đề tài: “Biện pháp quản lý công tác đánh giá kết quả học tập của học viên trong đào tạo trực tuyến ở trường ĐHSP Hà Nội”.
Nhằm góp phần ứng dụng CNTT&TT trong đổi mới PPDH trong những năm vừa qua tại TTTH và các trƣờng THPT của Hải Phòng đã ra đời một số Website học tập nhƣ: Website tƣ liệu ảnh, Website hỗ trợ học trực tuyến, Website hỗ trợ thiết kế bài giảng, Website hỗ trợ thiết kế bài kiểm tra, Website hỗ trợ thi trực tuyến. Nhƣng cho đến nay các đề tài nghiên cứu mới chỉ đề cập đến từng Website học tập đơn lẻ, mà chƣa nghiên cứu về việc quản lý và 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sử dụng hệ thống Website học tập trong dạy học. Chính vì vậy tác giả chọn đề tài quản lý việc thiết kế và sử dụng hệ thống Website học tập để nghiên cứu. Một số khái niệm cơ bản 1.
Quản lý Theo quan điểm duy vật lịch sử thì lịch sử phát triển của xã hội loài ngƣời trải qua 5 giai đoạn, ở mỗi giai đoạn có một hình thái kinh tế xã hội đặc thù và có một đặc trƣng về tổ chức, quản lý xã hội. Ngay từ khi sơ khai tổ chức sinh hoạt và lao động của loài ngƣời đã mang tính cộng đồng, cho đến khi xuất hiện các tổ chức thị tộc, bộ lạc vấn đề tổ chức xã hội và quản lý xã hội chính thức đƣợc ra đời cùng với sự quản lý và phân chia lao động,. Trong lịch sử xã hội học, hoạt động quản lý gắn liền và đƣợc xem nhƣ là một bộ phận của khoa học lao động, khoa học tổ chức, xã hội học nghề nghiệp,. Khái niệm “quản lý” đƣợc định nghĩa theo nhiều cách khác nhau dựa trên cơ sở những cách tiếp cận khác nhau, vừa là khoa học vừa là nghệ thuật đang là vấn đề thu hút nhiều sự quan tâm.
Sau đây là một số định nghĩa về “quản lý ”: Theo quan điểm của lý thuyết hệ thống, quản lý là “phương thức tác động có chủ đích của chủ thể quản lý lên hệ thống, bao gồm hệ thống các quy tắc, các ràng buộc về hành vi đối với mọi đối tượng ở các cấp trong hệ thống nhằm duy trì tính trội hợp lý của cơ cấu và đưa hệ thống sớm đạt tới mục tiêu.” Theo quan điểm của điều khiển học, quản lý là "chức năng của những hệ có tổ chức, với bản chất khác nhau (sinh học, xã hội, kỹ thuật.) nó bảo toàn cấu trúc các hệ, duy trì chế độ hoạt động. Quản lý là một tác động hợp quy luật khách quan, làm cho hệ vận hành và phát triển”. Trong bài giảng cao học: “Cơ sở khoa học Quản lý trong quản lý giáo dục”- Nguyễn Quốc Chí-Nguyễn Thị Mỹ Lộc đã trích dẫn: - Theo F. Ông cho rằng “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất”, đƣợc thể hiện cụ thể qua bốn nguyên tắc quản lý của ông [21, tr.
7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.Fayol (1841-1925 ), kỹ sƣ ngƣời Pháp - Ông quan niệm: “Quản lý hành chính là kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra”[21, tr.18]; và đƣợc thể hiện trên 14 nguyên tắc quản lý của ông. Trong học thuyết quản lý của mình H. Fayol đƣa ra 5 chức năng cần thiết của một nhà quản lý là: Dự báo và lập kế hoạch; Tổ chức; Chỉ huy; Phối hợp; Kiểm tra và sau này đƣợc kết hợp thành 4 chức năng: Lập kế hoạch; Tổ chức; Chỉ đạo; Kiểm tra. Đề cập đến vấn đề quản lý, tác giả Đặng Vũ Hoạt và tác giả Hà Thế Ngữ cho rằng: "Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định” [16, tr.
Tác giả Nguyễn Văn Lê quan niệm: “Quản lý là một hệ thống xã hội, là khoa học và nghệ thuật tác động vào từng thành tố của hệ thống bằng những phương pháp thích hợp, nhằm đạt các mục tiêu đề ra cho hệ và từng thành tố của hệ” [17, tr. Những quan niệm về quản lý trên đây tuy có cách tiếp cận khác nhau nhƣng nhận thấy chúng đều bao hàm một nghĩa chung, đó là: - Quản lý là các hoạt động thiết yếu đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân, đảm bảo hoàn thành các công việc và là phƣơng thức tốt nhất để đạt đƣợc mục tiêu chung của tập thể. - Quản lý là quá trình tác động có định hƣớng, có tổ chức của chủ thể quản lý lên đối tƣợng quản lý thông qua các cơ chế quản lý, nhằm sử dụng có hiệu quả cao nhất các nguồn lực trong điều kiện môi trƣờng biến động để hệ thống ổn định, phát triển, đạt đƣợc những mục tiêu đã định. Nhƣ vậy, quản lý là một quá trình tác động có tổ chức, có hƣớng đích của chủ thể quản lý tới đối tƣợng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra.
Quản lý bao giờ cũng tồn tại với tƣ cách là một hệ thống, bao gồm các thành phần: + Chủ thể quản lý: (người quản lý, tổ chức quản lý) đề ra mục tiêu dẫn 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dắt điều khiển các đối tƣợng quản lý để đạt tới mục tiêu định sẵn. + Khách thể quản lý (đối tượng quản lý): Con ngƣời (đƣợc tổ chức thành một tập thể, một xã hội.), thế giới vô sinh (các trang thiết bị kỹ thuật.), thế giới hữu sinh (vật nuôi, cây trồng. + Cơ chế quản lý: Những phƣơng thức mà nhờ đó hoạt động quản lý đƣợc thực hiện và quan hệ tƣơng tác qua lại giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý đƣợc vận hành điều chỉnh. + Mục tiêu chung: Cho cả đối tƣợng quản lý và chủ thể quản lý, đây là căn cứ để chủ thể quản lý tạo ra các hoạt động quản lý.
Với khái niệm này, về bản chất quá trình quản lý có thể đƣợc biểu diễn dƣới dạng sơ đồ sau: Kế hoạch Kiểm tra Thông tin Tổ chức Chỉ đạo Sơ đồ 1.1: Bản chất quá trình quản lý * Lập kế hoạch Kế hoạch là văn bản, trong đó xác định những mục tiêu và những quy định, thể thức để đạt đƣợc những mục tiêu đó. Có thể hiểu lập kế hoạch là quá trình thiết lập các mục tiêu, hệ thống các hoạt động và các điều kiện đảm bảo thực hiện các mục tiêu đó. Nói cách khác, kế hoạch là bản hƣớng dẫn, theo đó: - Một hệ thống cơ quan, đơn vị sẽ đầu tƣ nguồn lực theo nhu cầu để đạt đƣợc mục tiêu. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Các thành viên của hệ thống, đơn vị tiến hành các hoạt động có liên quan chặt chẽ tới các mục tiêu, các quy định và các quá trình; đồng thời trên cơ sở đó giám sát và đánh giá việc thực hiện các mục tiêu và có thể điều chỉnh các hoạt động nếu không thoả mãn những tiến bộ đạt đƣợc.
* Tổ chức Tổ chức là quá trình sắp xếp và phân bổ công việc, phân định quyền hạn và trách nhiệm cụ thể với các nguồn lực và điều kiện hoạt động cho các thành viên của tổ chức để họ có thể tiến hành các công việc nhằm đạt đƣợc các mục tiêu của tổ chức một cách có hiệu quả. Ứng với những mục tiêu khác nhau đòi hỏi cấu trúc của tổ chức của đơn vị cũng khác nhau. Ngƣời quản lý cần lựa chọn cấu trúc của tổ chức cho phù hợp với mục tiêu và nguồn lực hiện có. Quá trình đó còn đƣợc gọi là thiết kế tổ chức.
* Chỉ đạo Chỉ đạo là điều hành, điều khiển tác động, huy động và giúp đỡ những cán bộ dƣới quyền thực hiện những nhiệm vụ đƣợc phân công. Hoạt động chỉ đạo là làm việc với con ngƣời. Nhƣ vậy bản chất Chỉ đạo là tác động một cách có ý thức của chủ thể quản lý vào đối tượng bị quản lý trên cơ sở phát huy một cách tối đa những năng lực của cấp dưới nhằm đạt tới hiệu quả cao nhất những mục tiêu của tổ chức. * Kiểm tra Kiểm tra là một trong những chức năng cơ bản của quản lí, là quá trình xem xét thực tế nhằm kiểm nghiệm giữa mục tiêu đề ra với cái đạt đƣợc trên thực tế của đối tƣợng để thu nhận thông tin ngƣợc tạo nên quá trình điều chỉnh và tự điều chỉnh của hệ thống bị quản lí.
Nhƣ vậy kiểm tra là quá trình thu nhận thông tin, điều chỉnh thông tin, tạo lập kênh thông tin phản hồi trong quản lí giáo dục, giúp các nhà quản lí điều chỉnh có hiệu quả mục tiêu quản lí. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ngƣời quản lý phải kiểm tra các hoạt động của đơn vị và việc thực hiện các mục tiêu đề ra. Có 3 yếu tố cơ bản của công tác kiểm tra: - Xây dựng chuẩn thực hiện - Đánh giá việc thực hiện trên cơ sở so sánh với chuẩn. - Nếu có sự chênh lệch thì cần điều chỉnh hoạt động.
Trong trƣờng hợp cần thiết có thể điều chỉnh mục tiêu. Nhƣ vậy, đối với mỗi hệ thống hoạt động quản lý có thể chia ra 3 nội dung lớn: Lập kế hoạch; Tổ chức và chỉ đạo việc thực hiện kế hoạch; Kiểm tra, đánh giá các hoạt động và việc thực hiện các mục tiêu đề ra.