phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, Luận văn gồm có 03 chương: Chƣơng I. LUẬN CỨ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ TÀI SẢN NHÀ NƢỚC VÀ QUẢN LÝ TÀI SẢN NHÀ NƢỚC TẠI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP. Chƣơng II. THỰC TRẠNG VIỆC QUẢN LÝ TÀI SẢN NHÀ NƢỚC TẠI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.
Chƣơng III. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ TÀI SẢN NHÀ NƢỚC TẠI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ, SỬ DỤNG TÀI SẢN NHÀ NƢỚC TẠI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 1. Những vấn đề cơ bản về đơn vị sự nghiệp công lập tại Việt Nam 1.
Khái niệm cơ bản về dịch vụ cộng DVC là cung cấp dịch vụ tối thiểu cần thiết cho toàn xã hội mà tư nhân không muốn làm hoặc không đủ nguồn lực làm, do đó nhà nước chỉ định tổ chức và hỗ trợ toàn bộ hoặc một phần kinh phí. Xét theo lĩnh vực cung ứng dịch vụ thì DVC được chia thành 3 loại: DVC trong lĩnh vực HCNN hay còn gọi là dịch vụ hành chính công (HCC), DVC trong lĩnh vực SNC, DVC trong lĩnh vực công ích.1 Dịch vụ công Là một loại hình DVC là những hoạt động phục vụ các quyền và nghĩa vụ cơ bản của các tổ chức và công dân do các cơ quan HCNN thực hiện dựa vào thẩm quyền hành chính – pháp lý của NN.2 Dịch vụ sự nghiệp công Là loại dịch vụ phục vụ quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, phục vụ sự phát triển kinh tế - xã hội (như giáo dục công, y tế công, thể dục thể thao, môi trường…) do NN tổ chức cung cấp cho nhân dân dưới các hình thức: (i) NN thành lập các ĐVSN cung cấp DVSNC thuộc sở hữu NN, kinh phí hoạt động của các đơn vị này do NSNN đảm bảo toàn bộ, hoặc đảm bảo một phần, một phần kinh phí do đối tượng thụ hưởng DVSNC đóng góp (như học phí, viện phí.) theo quy định của NN; (ii) NN tạo điều kiện, ban hành 7 z các chính sách ưu đãi, thu hút đầu tư để các thành phần kinh tế trong xã hội tham gia cung cấp dịch vụ.3 Dịch vụ công ích Là dịch vụ cung ứng các hàng hoá, sản phẩm dịch vụ cơ bản, thiết yếu cho người dân theo đơn đặt hàng của NN hoặc giao nhiệm vụ cho các doanh nghiệp quốc phòng, an ninh thực hiện (đối với các sản phẩm công ích trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh); NN đấu thầu, đặt hàng hoặc giao nhiệm vụ đối với các doanh nghiệp NN, doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế và hợp tác xã thực hiện, như: Vệ sinh môi trường, xử lý rác thải, cấp nước sạch, giao thông công cộng, đô thị, dịch vụ điều hành bay, quản lý bảo trì đường sắt, cảng hàng không, đường thuỷ nội địa; Xuất bản sách giáo khoa, sách và tạp chí phục vụ học tập; xuất bản bản đồ, sách báo chính trị, dịch vụ vận tải công cộng bằng xe buýt tại các đô thị. Đơn vị sự nghiệp công ĐVSNC là đơn vị sự nghiệp cung cấp dịch vụ công do NN quản lý hoặc NN giao cho các đơn vị khác thực hiện. Tổ chức cung cấp dịch vụ công DVC có vai trò vô cùng quan trọng đối với toàn xã hội vì DVC phục vụ nhu cầu chung và thiết yếu của cả cộng đồng, nhưng hiện nay ở nước ta việc cung ứng DVC được tiến hành theo các hình thức sau: Các CQNN trực tiếp cung ứng DVC.
Theo hình thức này, NN chịu trách nhiệm trực tiếp cung ứng DVC đối với các dịch vụ liên quan đến an ninh quốc gia và lợi ích chung của đất nước (như quốc phòng, an ninh, hộ tịch …) mà chỉ có cơ quan công quyền mới có đủ tư cách pháp lý để làm. NN với vai trò chủ đạo của mình, cũng trực tiếp cung ứng các loại dịch vụ thuộc các lĩnh vực 8 z và địa bàn không thuận lợi đầu tư (ví dụ vùng sâu, vùng xa) mà thị trường không thể hoặc không muốn tham gia do chi phí quá lớn hay không có lợi nhuận. Các ĐVSN do NN thành lập để cung ứng như các bệnh viện và trường học công, các cơ sở cung cấp điện nước… hoạt động tương tự các công ty nhưng không vì mục tiêu lợi nhuận. Ban đầu, NN đầu tư cho các đơn vị đó, sau đó họ sẽ tự trang trái và khi cần thiết có thể nhận được sự hỗ trợ bù đắp của NN.
NN chuyển một phần hoạt động cung ứng DVC cho thị trường dưới các hình thức: + Uỷ quyền cho các công ty tư nhân hoặc tổ chức phi Chính phủ cung ứng một số DVC mà NN có trách nhiệm bảo đảm và thường có nguồn kinh phí từ ngân sách NN như vệ sinh môi trường, thu gom và xử lý rác thải, xây dựng và xử lý hệ thống cống thoát nước v. Công ty tư nhân hoặc tổ chức phi chính phủ được uỷ quyền phải tuân thủ những điều kiện do NN quy định và được NN cấp kinh phí (loại dịch vụ nào có thu tiền của người thụ hưởng thì chỉ được NN cấp một phần kinh phí). + Liên doanh cung ứng DVC giữa NN và một số đối tác trên cơ sở đóng góp nguồn lực, chia sẻ rủi ro và cùng phân chia lợi nhuận. Hình thức này cho phép NN giảm phần đầu tư từ ngân sách cho DVC mà vẫn tham gia quản lý trực tiếp và thường xuyên các dịch vụ này nhằm đảm bảo lợi ích chung.
+ Chuyển giao trách nhiệm cung ứng DVC cho các tổ chức khác đối với các dịch vụ mà các tổ chức này có điều kiện thực hiện có hiệu quả như đào tạo, khám chữa bệnh, tư vấn, giám định…(bao gồm các hiệp hội nghề nghiệp, các tổ chức xã hội.), đặc biệt là, các tổ chức này tuy là đơn vị tư nhân hoặc phi Chính phủ nhưng được khuyến kích hoạt động theo cơ chế không vì lợi nhuận, chỉ thu phí để tự trang trải. 9 z + Tư nhân hoá DVC, trong đó NN bán phương tiện và quyền chi phối của mình đối với dịch vụ nào đó cho tư nhân song vẫn giám sát và đảm bảo lợi ích công bằng pháp luật. + Mua DVC từ khu vực tư nhân đối với các dịch vụ mà tư nhân có thể làm tốt và giảm được số người làm dịch vụ trong CQNN, như bảo dưỡng phương tiện phòng cháy, chữa cháy, các phương tiện tin học, đáp ứng nhu cầu về phương tiện đi lại, làm vệ sinh và công việc phục vụ trong cơ quan… 1. Đơn vị sự nghiệp công lập 1.
Khái niệm đơn vị sự nghiệp công lập ĐVSNCL là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của NN, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp DVC, phục vụ QLNN. Như vậy, các ĐVSN gồm có 2 loại chính: Các ĐVSNCL do các Bộ, ban, ngành, đoàn thể TW quản lý và các ĐVSNCL do ĐP quản lý. Ngoài ra, các tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ được tổ chức hoạt động theo các mô hình: (i) Tổ chức khoa học và công nghệ tự trang trải kinh phí hoạt động thường xuyên (gọi tắt là tổ chức tự trang trải kinh phí) và (ii) Doanh nghiệp khoa học và công nghệ. Tổ chức khoa học và công nghệ hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược, chính sách, nghiên cứu xây dựng định mức kinh tế - kỹ thuật chuyên ngành, phục vụ QLNN được NSNN tiếp tục bảo đảm kinh phí hoạt động thường xuyên theo nhiệm vụ được giao.
Tổ chức khoa học và công nghệ thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm là ĐVSN khoa học và công nghệ của NN (trừ trường hợp toàn bộ tổ chức chuyển đổi để thành lập doanh nghiệp khoa học và công nghệ). Ngoài ra, còn có các ĐVSN do các Tập đoàn, Tổng công ty do Thủ tướng Chính phủ thành lập quản lý. 10 z Tóm lại: Một cơ quan, đơn vị được gọi là ĐVSNCL nếu nó thoả mãn đủ 03 (ba) điều kiện: (i) Do cơ quan có thẩm quyền của NN, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập; (ii) Có tư cách pháp nhân và (iii) Có nhiệm vụ cung cấp DVC, phục vụ QLNN. Đặc điểm hoạt động của đơn v ị sự nghiệp công lập Trước yêu cầu đổi mới của đất nước, các ĐVSN được hoạt động theo các hình thức cụ thể sau đây: ĐVSN có thu tự bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên (gọi tắt là ĐVSN tự bảo đảm kinh phí hoạt động) là đơn vị có nguồn thu SN bù đắp toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên, NSNN không phải cấp kinh phí bảo đảm hoạt động thường xuyên cho đơn vị.
ĐVSN có thu tự bảo đảm một phần kinh phí hoạt động thường xuyên (gọi tắt là ĐVSN tự bảo đảm một phần kinh phí hoạt động) là đơn vị có nguồn thu SN chưa tự trang trải được toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên, NSNN cấp một phần kinh phí hoạt động thường xuyên cho đơn vị. ĐVSN do NSNN đảm bảo toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên. Cả 3 mô hình ĐVSN này thì NSNN đều đảm bảo toàn bộ kinh phí đầu tư xây dựng cơ bản. Phân loại đơn vị sự nghiệp công lập - Theo quy định của Luật quản lý, sử dụng TSNN thì các ĐVSN gồm 2 loại: ĐVSNCL tự chủ tài chính và ĐVSNCL chưa tự chủ tài chính.
Cụ thể: ĐVSNCL tự chủ tài chính là đơn vị có đủ điều kiện theo quy định của Chính phủ được NN xác định giá trị TS để giao cho đơn vị quản lý theo cơ chế giao vốn cho doanh nghiệp. Tiêu chí để xác định ĐVSN đủ điều kiện xác định giá trị TS để giao vốn căn cứ vào nhiều yếu tố: khả năng tự chủ tài chính, lĩnh vực hoạt động, địa bàn hoạt động. 11 z ĐVSNCL chưa tự chủ tài chính là các ĐVSN chưa đủ điều kiện để XĐGT TS để giao vốn hoặc đủ điều kiện nhưng đơn vị không có đề án quản lý, sử dụng TSNN theo mô hình ĐVSN tự chủ tài chính. - Theo quy định tại Luật Viên chức thì ĐVSNCL gồm: + ĐVSNCL được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự (gọi là ĐVSNCL được giao quyền tự chủ); + ĐVSNCL chưa được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự (gọi là ĐVSNCL chưa được giao quyền tự chủ).