Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý tài chính trong hoạt động Khoa học và Công nghệ. Chương 2: Thực trạng quản lý tài chính trong hoạt động Khoa học và Công nghệ ở Viện Vật lý - Viện Hàn Lâm Khoa học và Công nghệ Việt Namtừ 2010 đến năm 2013. Chương 3: Giải pháp cải thiện quản lý tài chính cho Viện Vật lý - Viện Hàn Lâm Khoa học và Công nghệ Việt Namtrong thời gian tới.CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TRONG HOẠT ĐỘNG KH&CN 1. Khái niệm và đặc điểm của quản lý tài chính trong hoạt động KH&CN 1.
Khái niệm quản lý tài chính Quản lý tài chính là quá trình mà chủ thể quản lý, thông qua việc sử dụng có chủ định các phương pháp và các công cụ quản lý, tác động và điều khiển hoạt động tài chính nhằm đạt được các mục tiêu đã định. Quản lý tài chính trong hoạt động KH&CN là tổng thể các biện pháp, các hình thức tổ chức quản lý quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các nguồn tài chính cho hoạt động KH &CN trong các tổ chức KH&CN. Trong đó, chủ thể quản lý cao nhất là Nhà nước, tiếp theo là các cơ quan nhà nước được Nhà nước giao nhiệm vụ thực hiện các hoạt động tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của Nhà nước. Các cơ quan được giao chức năng, nhiệm vụ trực tiếp quản lý tài chính thông thường là bộ máy tài chính trong hệ thống các cơ quan nhà nước.
Quản lý tài chính đối với nhiệm vụ KH&CN được thể hiện qua các nội dung sau: Lập dự toán, thẩm định, phê duyệt dự toán, giao dự toán, cấp kinh phí, kiểm tra, quyết toán kinh phí. Đặc điểm quản lý tài chính trong hoạt động Khoa học và Công nghệ Quản lý tài chính cho hoạt động KH&CN là những biện pháp, hình thức tổ chức quản lý việc tạo lập, phân phối và sử dụng nguồn tài chính cho hoạt động KH&CN. Vì thế, nó thể hiện quan hệ phân phối lợi ích giữa nhà nước với ngành KH&CN, giữa ngành với các đơn vị hoạt động trong ngành, giữa các đơn vị hoạt động trong ngành với nhau, cũng như giữa các nhà nghiên cứu khoa học với các đơn vị mà họ hoạt động. Do phải giải quyết các z 15 mối quan hệ lợi ích nên cơ chế tài chính nói chung, cơ chế tài chính cho hoạt động KH&CN nói riêng rất nhạy cảm.
Nó liên quan đến phân phối nguồn vốn của xã hội. Việc phân phối đúng sẽ thúc đẩy nền kinh tế nói chung, hoạt động KH&CN nói riêng phát triển và ngược lại. Đặc điểm quản lý tài chính trong hoạt động KH&CN được thể hiện trên những khía cạnh chủ yếu sau đây: Thứ nhất, cơ chế tài chính phản ảnh mối quan hệ tài chính giữa tổ chức nghiên cứu với Nhà nước. Nghiên cứu khoa học là hoạt động trí tuệ được tiến hành một cách rất đa dạng.
Về cơ bản, các đề tài nghiên cứu có thể do một cá nhân hoặc một tập thể các nhà khoa học thức hiện. Mặc dù như vậy, sản phẩm nghiên cứu cũng do một tổ chức đặt hàng hoặc nhận đặt hàng để tổ chức triển khai nghiên cứu. Với đặc điểm này, ở nước ta hiện nay, tổ chức đặt hàng thường là Nhà nước. Các kết quả nghiên cứu thường không có thị trường, một phần rất nhỏ trong đó được các công ty tư nhân đặt hàng dưới dạng các hợp đồng KHCN.
Tổ chức nghiên cứu, triển khai, dịch vụ khoa học đó có thể là một viện nghiên cứu khoa học, một trung tâm nghiên cứu triển khai ứng dụng hoặc dịch vụ khoa học, hoặc một trường đại học đứng ra để tổ chức thực hiện đề tài. Trong thuật ngữ hiện hành ở nước ta gọi đó là cơ quan chủ trì đề tài. Thông qua cơ quan chủ trì đề tài, các nhà nghiên cứu nhận công trình nghiên cứu, triển khai thực hiện và được nghiệm thu, đánh giá, đưa vào ứng dụng trong thực tiễn. Nhà nước phải bảo đảm sự phát triển ổn định, liên tục cho nghiên cứu cơ bản trong các lĩnh vực khoa học, nhất là một số lĩnh vực khoa học đặc thù; đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng trong các lĩnh vực KH&CN, chú trọng phát triển công nghệ, nhất là công nghệ cao, công nghệ mới; Phải đẩy mạnh ứng dụng kết quả hoạt động KH&CN; phát triển dịch vụ KH&CN; xây dựng và z 16 phát triển thị trường KH&CN; khuyến khích hoạt động sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, phổ biến tri thức KH&CNvà kinh nghiệm thực tiễn, tạo điều kiện thuận lợi cho các hội KH&CN thực hiện tốt trách nhiệm của mình.
Các tổ chức nghiên cứu, triển khai, ứng dụng, dịch vụ khoa học như các viện, các trung tâm nghiên cứu., hoạt động theo luật định để phát triển KH&CN, phổ biến kiến thức, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài về KH&CN; phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, ứng dụng các thành tựu KH&CNvào việc phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Tổ chức, động viên các thành viên tham gia tư vấn, phản biện, giám định xã hội và tiến hành các hoạt động KH&CN. Đối với các nhà khoa học, nhiệm vụ của họ là phải cung cấp được những sản phẩm nghiên cứu có chất lượng. Sản phẩm nghiên cứu của họ đáp ứng nhu cầu của sự phát triển nhà trường, của dân cư, của các doanh nghiệp và của nhà nước thì công trình đó được ứng dụng trong thực tiễn, nhiệm vụ của họ hoàn thành, họ được trả chi phí cho các sản phẩm nghiên cứu và ngược lại.
Thứ hai nguồn tài chính cho hoạt động KH&CN trong các tổ chức nghiên cứu khoa học chủ yếu từ NSNN. Để cho KH&CN phát triển, cần thiết phải có sự đầu tư nguồn lực, kể từ con người, đến cơ sở, và suy đến cùng là nguồn tài chính cho lĩnh vực này hoạt động. Nguồn lực này được hình thành từ nhà nước, các doanh nghiệp, các cơ quan, tổ chức xã hội,.là nguồn ngân sách của nhà nước. Trong những giai đoạn phát triển nhất định, nguồn tài chính đầu tư cho KH&CN càng lớn sẽ phản ánh tầm quan trọng, sự đóng góp to lớn và của các tổ chức nghiên cứu đối với sự phát triển của đất nước.
- Nguồn tài chính từ ngân sách nhà nước cho hoạt động KH&CN.Đầu tư tài chính từ NSNN cho KH&CN là quá trình phân phối sử dụng một phần z 17 vốn NSNN để duy trì, phát triển hoạt động KH&CN theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp. Đây chính là thực hiện sự phân bổ nguồn tài chính của nhà nước cho hoạt động KH&CN. Nguồn đầu tư này có những đặc điểm sau đây: + Nguồn tài chính từ NSNN đầu tư cho hoạt động KH&CN không chỉ đơn thuần là cung cấp tiềm lực tài chính nhằm duy trì, củng cố các hoạt động KH&CN mà còn có tác dụng định hướng điều chỉnh các hoạt động nghiên cứu phát triển KH&CN theo đường lối chủ trương của Nhà nước. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường thì nguồn tài chính đầu tư cho hoạt động KH&CN rất đa dạng.
Ở các nước có nền kinh tế thị trường, nguồn tài chính đầu tư cho nghiên cứu khoa học được hình thành từ ngân sách nhà nước, các doanh nghiệp, từ bản thân cơ sở nghiên cứu, từ các tổ chức xã hội và từ sự tài trợ của các tổ chức quốc tế. Tỷ phần trong các nguồn tài chính cho khoa học ở mỗi nước có sự khác nhau, song nhìn chung, các nước đều có chính sách đầu tư từ ngân sách nhà nước cho các cơ sở nghiên cứu khoa học, các trường đại học để tạo nguồn đầu tư tài chính cho hoạt động KH&CN. + Nguồn tài chính từ NSNN phục vụ cho các hoạt động KH&CN trong các lĩnh vực trọng điểm, ưu tiên thực hiện nhiệm vụ nâng cao lợi ích xã hội; Thực hiện nghiên cứu cơ bản có định hướng trong các lĩnh vực khoa học; Duy trì và phát triển tiềm lực KH&CN; Cấp cho các quỹ phát triển KH&CN của nhà nước; Xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, đầu tư chiều sâu cho các tổ chức nghiên cứu và phát triển của nhà nước; Trợ giúp cho các doanh nghiệp thực hiện nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ thuộc lĩnh vực ưu tiên trọng điểm. Thứ ba, tổ chức phân phối sử dụng và sự vận động của nguồn tài chính cho hoạt động KH&CNtrong các tổ chức nghiên cứu do đặc điểm của cơ chế kinh tế quyết định.
Tuỳ thuộc vào từng cơ chế kinh tế, việc tổ chức phân phối, sử dụng và sự vận động của nguồn tài chính cũng có sự khác nhau. z 18 Trong điều kiện nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, nguồn tài chính cho hoạt động KH&CN chủ yếu là nguồn từ NSNN. Các nguồn tài chính khác đều được tập trung vào NSNN và sau đó được phân phối theo một kế hoạch thống nhất. Vì vậy, sự vận động của nguồn tài chính cho hoạt động KH&CN sẽ đi từ Nhà nước tới các đơn vị nghiên cứu và các đơn vịnghiên cứu giao vốn cho các nhà khoa học trên cơ sở các nhiệm vụ đã được các đơn vị KH&CN giao.
Về bản chất, ta có thể gọi đây là mô hình vận động nguồn tài chính hai nhân tố: Người đặt hàng và các đơn vị nghiên cứu. Để mô hình hoá quá trình vận động của vốn theo mô hình này, chúng ta xem hình 1. Từ Ngân sách nhà nước Các Các nhà Tổ chức khoa học nghiên cứu khoa học Hình 1.1: Mô hình vận động của nguồn tài chính trong nền kinh tế tập trung Ở đây, cả người đặt hàng và người nghiên cứu đều thuộc khu vực nhà nước. Nguồn tài chính cho hoạt động KH&CN trong cơ chế này là từ NSNN.
Người làm công tác nghiên cứu cũng thuộc nhà nước. Từ NSNN nguồn tài chính sẽ đưa đến các tổ chức nghiên cứu khoa học, với tư cách là cơ quan chủ trì các đề tài, dự án. Trên cơ sở kế hoạch nghiên cứu được phê duyệt, các tổ z 19 chức nghiên cứu khoa học ký hợp đồng với các nhà khoa học để nghiên cứu đề tài. Khi kết thúc hợp đồng, các cơ quan chủ trì nghiệm thu đề tài và bàn giao kết quả nghiên cứu cho người đặt hàng (thường là Nhà nước).
Trong điều kiện kinh tế thị trường, nguồn tài chính cho KH&CN có mô hình vận động khác.