CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGHIÊN CỨU SỰ HÀI LÒNG TRONG CÔNG VIỆC CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG VÀ THỰC TIỄN Chương này sẽ giới thiệu các khái niệm và lý thuyết về cơ sở xây dựng mô hình nghiên cứu, trình bày một số định nghĩa về sự hài lòng trong công việc. Trên cơ sở kết quả một số nghiên cứu trước của các tác giả trong và ngoài nước, luận văn tiến hành xây dựng mô hình nghiên cứu ban đầu và các giả thuyết nghiên cứu. SỰ HÀI LÒNG (THỎA MÃN) CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG 1. Nhu cầu, sự thỏa mãn Sự hài lòng là kết quả của nhu cầu (Nhu cầu là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển.
Theo Kotler (1999) [34], nhu cầu là trạng thái hay cảm giác thiếu hụt cần được đáp ứng) được hài lòng do sự động viên mang lại. Tuy nhiên, các yếu tố tác động đến sự hài lòng của người lao động, Dickson (1973) kết luận tiền bạc không phải là động cơ duy nhất của người lao động và hành vi của người lao động liên kết đến thái độ của họ. Cụ thể hơn, Brislin, et al.(2005) [15] cho rằng đối với người lao động, cảm giác đạt thành tựu với sự công nhận nghề nghiệp, lương và giá trị công bằng là rất quan trọng. Nhưng không phải tối đa hóa mọi yếu tố động viên của tổ chức đều có tác động tích cực đến sự hài lòng.
Khái niệm sự hài lòng của người lao động Tại Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về sự hài lòng (thỏa mãn) và các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của người lao động tại nơi làm việc. Theo từ điện bách khoa toàn thư (From Wikipedia, the free encyclopedia) [43] cho rằng sự thỏa mãn công việc là trạng thái hài lòng dễ xúc cảm do một sự đánh giá, một phản ứng xúc động, 8 thái độ của công việc. Tuy nhiên, định nghĩa của từ điển Wikipedia chỉ là một khía cạnh đo lường hài lòng của người lao động, do vậy cần xem xét thêm những khía cạnh khác nhau như sau: Mức độ hài lòng chung trong công việc Theo Vroom (1964) [40] hài lòng trong công việc là trạng thái mà người lao động có định hướng hiệu quả rõ ràng đối với công việc trong tổ chức. Theo Weiss (1967) [42] định nghĩa rằng sự hài lòng trong công việc là thái độ về công việc được thể hiện bằng cảm nhận, niềm tin và hành vi của người lao động.
Theo Locke (1976) [29] thì cho rằng hài lòng trong công việc được hiểu là người lao động thực sự cảm thấy thích thú đối với công việc của họ. Quinn và Staines (1979) [33] cho rằng hài lòng trong công việc là phản ứng tích cực đối với công việc. Với Spector (1997) [36] sự hài lòng trong công việc đơn giả là việc người ta cảm thấy thích công việc của họ và các khía cạnh công việc của họ như thế nào. Vì nó là sự đánh giá chung, nên nó là một biến thái độ.
Quan điểm của Ellickson và logsdon (2001) [22] thì cho rằng sự hài lòng trong công việc được định nghĩa chung là mức độ người nhân viên yêu thích công việc của họ, đó là thái độ dựa trên sự nhận thức của người nhân viên (tích cực hay tiêu cực) về công việc hoặc môi trường làm việc của họ. Nói đơn giản hơn, môi trường làm việc đáp ứng được nhu cầu, giá trị và tính cách của người lao động thì mức độ hài lòng công việc càng cao. Còn Kreitner và Kinicki (2007) [27] sự hài lòng công việc chủ yếu phản ánh mức độ một cá nhân yêu thích công việc đó đối với công việc của mình. Với các quan điểm về sự hài lòng ở trên, định nghĩa về sự hài lòng của Weiss là đầy đủ và bao quát hơn cả, nên luận văn sẽ sử dụng định nghĩa này cho nghiên cứu của mình.
9 Mức độ hài lòng với các thành phần công việc: Theo Smith, Kendal và Hulin (1969) [35], mức độ thỏa mãn với các thành phần hay khía cạnh của công việc là thái độ ảnh hưởng và ghi nhận của nhân viên về các khía cạnh khác nhau trong công việc như: bản chất công việc, cơ hội đào tạo và thăng tiến, lãnh đạo, đồng nghiệp và tiền lương của họ. Theo Schemerhon (1993), Kreitner và Kinicki (2007) [27] trong định nghĩa sự hài lòng công việc như là sự phản ứng về mặt tình cảm và cảm xúc đối với các khía cạnh khác nhau của công việc của nhân viên. Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về sự hài lòng trong công việc nhưng nhìn chung sự hài lòng công việc được định nghĩa theo hai khía cạnh là sự hài lòng chung trong công việc và sự hài lòng có được khi người lao động có được cảm giác thích thú, thỏa mái và thể hiện phản ứng tích cực đối với các khía cạnh công việc của mình. Do vậy luận văn chọn cả hai cách tiếp cận trên để nghiên cứu sự hài lòng của người lao động trong công việc.
Các lý thuyết về sự hài lòng trong công việc Nghiên cứu sự hài lòng công việc thường được các nhà nghiên cứu gắn liền với các lý thuyết về động viên và sự hài lòng công việc. Ngoài các lý thuyết như: Lý thuyết hai nhân tố của Herzberg (1959) [24], Thuyết nhu cầu cấp bậc của Abraham Maslow (1943) [30], Lý thuyết ERG của Clayton P.Alderfer (1969) [10], Lý thuyết kỳ vọng của Victor Vroom (1964) [40] (phụ lục 1) thì lý thuyết mô hình đặc điểm công việc của Hackman & Oldham (1974) [23] đã xây dựng mô hình này nhằm xác định cách thiết kế công việc sao cho người lao động có được động lực làm việc ngay từ bên trong họ cũng như tạo được sự hài lòng công việc nói chung và tạo được hiệu quả công việc tốt nhất. Mô hình đặc điểm công việc của Hackman & Oldham Để xây dựng được thiết kế công việc như thế, theo hai nhà nghiên cứu này, công việc trước hết phải sử dụng nhiều kỹ năng khác nhau, người nhân viên phải nắm rõ công việc từ đầu đến cuối và công việc phải có tầm quan trọng nhất định. Ba điều này sẽ mạng lại ý nghĩa trong công việc cho người lao động cũng như mang lại sự thú vị cho họ.
Kế đến, công việc phải cho phép nhân viên thực hiện một số quyền nhất định nhằm tạo cho nhân viên cảm nhận được trách nhiệm về kết quả công việc của mình. Cuối cùng, công việc phải đảm bảo có tính phản hồi từ cấp trên, ghi nhận thành tựu của nhân viên cũng như những góp ý, phê bình nhằm giúp nhân viên làm việc tốt hơn ở lần sau. Nó giúp nhân viên biết được kết quả thực sự của công việc mình làm. Mô hình này có nghĩa ứng dụng đối với đề tài nghiên cứu này, các biến đặc điểm công việc sẽ được đưa vào đánh giá xem nhân tố bản chất công việc ảnh hưởng đến mức độ hài lòng công việc nói chung của người lao động như thế nào.
CÁC MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG VỀ SỰ HÀI LÒNG Một số nghiên cứu khảo sát trước đây liên quan đến sự hài lòng của người lao động được xem xét, xác định, kiểm định và ứng dụng các thang đo nhân tố thực sự ảnh hưởng đến mức độ hài lòng người lao động, gồm một số nghiên cứu sau đây: 1. Chỉ số mô tả công việc JDI của Smith, Kendall và Hulin (1969) [35] Smith, Kendall và Hulin của trường Đại học Cornell đã xây dựng chỉ số mô tả công việc (Job Descriptive Index) và được đánh giá rất cao trong lý thuyết và thực tiễn, được thể hiện qua 05 thang đo nhân tố như sau: (a) Tính chất công việc; (b) Thanh toán tiền lương; (c) Thăng tiến; (d) Giám sát; (e) Đồng nghiệp. Theo nội dung đánh giá của chỉ số mô tả công việc JDI, mỗi thang đo nhân tố đưa ra 05 nội dung tiêu biểu nhằm đánh giá theo khía cạnh riêng, cụ thể: (a) Tính chất công việc (c) Thăng tiến 1. Khả năng hoàn thành công việc 1.
Thời cơ tốt để thăng tiến 2. Công việc nhàm chán 2. Công việc không cơ hội thăng tiến 3. Thỏa mãn công việc bản thân 3.
Thăng tiến nhờ vào năng lực 4. Công việc không đáng quan tâm 4. Nhiều cơ hội để thăng tiến 5. Công việc đòi hỏi thách thức 5.
Chính sách thăng tiến không công bằng (b) Thanh toán tiền lương (d) Giám sát 1. Trả lương công bằng 1. NLĐ được khen ngợi làm việc tốt 2. Trả lương không đầy đủ 2.
NLĐ bị quấy rầy khi làm việc 3. Thu nhập tương xứng chi phí cơ bản 3. NLĐ xử lý khéo léo công việc 4. Trả lương rất tốt 4.
NLĐ xử lý không tốt công việc 5. Không đảm bảo trong việc trả lương 5. NLĐ không cập nhật công việc (e) Đồng nghiệp 1. Nhàm chán SỰ HÀI LÒNG CỦA 3.
Thông minh NGƯỜI LAO ĐỘNG 4. Trách nhiệm Hình 1.2: Chỉ số mô tả công việc của Smith, Kendall và Hulin 12 Giá trị và độ tin cậy của JDI được đánh giá rất cao trong cả thực tiễn lẫn lý thuyết (Mayer và ctg, 1995). Price (1997) cho rằng JDI là công cụ nên chọn lựa cho các nghiên cứu đo lường về mức độ thỏa mãn của nhân viên trong công việc. Chỉ trong hai mươi năm cuối thế kỷ 20, JDI được sử dụng trong hơn 600 nghiên cứu đã được xuất bản (Ajimi, 2001).
Mô hình nghiên cứu của Mosammod Mahamuda Parvin (2011) [10] Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc của nhân viên trong lĩnh vực dược phẩm. Tác giả đã cố gắng để đánh giá sự hài lòng công việc của nhân viên trong các Công ty dược phẩm khác nhau. Nghiên cứu tập trung vào tầm quan trọng tương đối của các yếu tố: điều kiện làm việc, tiền lương và thăng tiến, công bằng, công việc an toàn, mối quan hệ với đồng nghiệp, mối quan hệ với cấp trên ảnh hưởng đến sự hài lòng trong công việc và tác động của chúng vào việc làm hài lòng tổng thể của người lao động. Đồng thời nghiên cứu cũng điều tra tác động của kinh nghiệm làm việc, tuổi tác, và sự khác biệt giới tính đến sự hài lòng công việc.
Trong phần tổng quan nghiên cứu của mình, Mosammod Mahamuda Parvin đã trích dẫn định nghĩa về sự hài lòng theo hai hướng là sự hài lòng với các công việc nói chung và sự hài lòng với các thành phần công việc. Theo cách tiếp cận với định nghĩa sự hài lòng với công việc nói chung, ông đã trích dẫn của Spector (1997) [38], Ellickson và Logsdon (2002) [23], Schermerhorn (1993).