Tổng quan nghiên cứu

Nghệ An sở hữu diện tích tự nhiên 1.820,9 nghìn ha với diện tích đất quy hoạch lâm nghiệp đạt hơn 1.132,2 nghìn ha, chiếm 72% tổng diện tích toàn tỉnh. Độ che phủ của rừng đạt mức 57,2%, tương đương 888.695,7 ha rừng hiện hữu gồm 733.268,4 ha rừng tự nhiên và hơn 155.427 ha rừng trồng. Mặc dù sở hữu Khu dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An, 1 Vườn Quốc gia Pù Mát cùng 2 Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Huống và Pù Hoạt, nguồn ngân sách nhà nước cấp cho công tác bảo vệ và phát triển rừng trong nhiều năm qua vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu thực tế. Việc thiếu hụt cơ chế tài chính bền vững đã tạo áp lực nặng nề lên chất lượng rừng đầu nguồn các lưu vực sông Cả, sông Hiếu và sông Chu.

Nghiên cứu được thực hiện nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng quản lý tài chính dịch vụ môi trường rừng tại tỉnh Nghệ An giai đoạn 2015 - 2018, đồng thời phân tích các yếu tố tác động để đề xuất hệ thống giải pháp tài chính khả thi đến năm 2025. Đề tài tập trung vào dòng chu chuyển vốn thu và chi ủy thác thông qua Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Nghệ An, với sự tham gia của 12 nhà máy thủy điện, 5 cơ sở sản xuất nước sạch và hàng nghìn chủ rừng trên địa bàn các huyện miền núi như Tương Dương, Kỳ Sơn.

Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện qua việc lượng hóa dòng tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng, giúp giảm áp lực chi ngân sách nhà nước, đồng thời tạo nguồn thu nhập trực tiếp cho hơn 10,91% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số sống phụ thuộc vào rừng. Kết quả thực hiện chính sách đã hỗ trợ giảm tỷ lệ vi phạm lâm luật hơn 35% tại các vùng trọng điểm, nâng cao năng lực phòng hộ đầu nguồn và ổn định sinh kế nông thôn miền núi.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng lý thuyết kinh tế học môi trường và cơ chế chi trả dịch vụ hệ sinh thái (PES - Payments for Ecosystem Services). Bản chất của PES là công cụ kinh tế dựa trên thị trường nhằm nội hóa các ngoại ứng tích cực, xác lập mối quan hệ kinh tế giữa bên sử dụng dịch vụ và bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng. Nghiên cứu kết hợp lý thuyết quản lý tài chính công đối với các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, vận hành theo cơ chế tự chủ, phi lợi nhuận và ủy thác dòng tiền theo quy định tại Nghị định 05/2008/NĐ-CP và Nghị định 99/2010/NĐ-CP.

Bên cạnh đó, mô hình đánh giá dòng chảy và xói mòn SWAT (Soil and Water Assessment Tool) từng áp dụng tại lưu vực Đa Nhim được sử dụng làm cơ sở lý giải giá trị kinh tế của rừng trong việc điều tiết nguồn nước cho các nhà máy thủy điện và cơ sở cấp nước sạch. Khung lý thuyết bao gồm bốn khái niệm cốt lõi: môi trường rừng, dịch vụ môi trường rừng, quản lý thu - chi tài chính dịch vụ môi trường rừng, và cơ chế chi trả gián tiếp qua quỹ ủy thác trung gian.

Phương pháp nghiên cứu

Tác giả sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2015 - 2018 thu thập từ Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Nghệ An, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Cục Thống kê, cùng báo cáo hoạt động của 12 dự án thủy điện và 5 công ty cấp nước. Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua điều tra chọn mẫu phân tầng đối với 120 hộ gia đình nhận khoán bảo vệ rừng tại huyện Tương Dương và Kỳ Sơn, kết hợp phương pháp chuyên gia với 15 cán bộ kiểm lâm và quản lý quỹ.

Phương pháp chọn mẫu phân tầng theo lưu vực thủy điện và trạng thái rừng được lựa chọn nhằm bảo đảm tính đại diện cao, phản ánh chính xác sự khác biệt về mức độ chi trả giữa các tiểu vùng. Luận văn áp dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích so sánh chuỗi thời gian và phương pháp cân đối tài chính nhằm đánh giá tỷ lệ hoàn thành kế hoạch thu, mức độ giải ngân chi trả và tác động của hệ số K điều chỉnh mức thụ hưởng. Toàn bộ quy trình xử lý thông tin được thực hiện trong giai đoạn 2018 - 2019, bảo đảm tính khách quan và khoa học của các số liệu kinh tế.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu nguồn thu của Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Nghệ An giai đoạn 2015 - 2018 phụ thuộc chủ yếu vào các cơ sở sản xuất thủy điện, chiếm trên 95% tổng nguồn thu toàn tỉnh. Với 12 nhà máy thủy điện thương phẩm đạt sản lượng trên 937 triệu kWh/năm, mức thu 36 đồng/kWh theo Nghị định 147/2017/NĐ-CP đã tạo nguồn tài chính ổn định. Trong khi đó, nguồn thu từ 5 nhà máy nước sạch với định mức 52 đồng/m3 và các cơ sở du lịch sinh thái từ 1% đến 2% doanh thu chỉ đóng góp khoảng 4% đến 5% tổng thu quỹ.

Thứ hai, công tác quản lý chi tài chính bảo đảm đúng tỷ lệ điều tiết định mức. Sau khi trích tối đa 10% cho chi phí quản lý của bộ máy Quỹ và 5% lập quỹ dự phòng hỗ trợ rủi ro thiên tai, hạn hán, 85% nguồn thu ủy thác còn lại được giải ngân cho các chủ rừng. Đối với các chủ rừng tổ chức nhà nước, 10% kinh phí được giữ lại phục vụ công tác nghiệm thu, lập bản đồ và 90% chi trả trực tiếp cho các hộ gia đình, cộng đồng nhận khoán bảo vệ hơn 888.695 ha rừng cung ứng dịch vụ.

Thứ ba, chính sách tạo tác động kinh tế - xã hội rõ rệt. Thu nhập bình quân của người làm nghề rừng tại các xã điều tra thuộc huyện Tương Dương tăng thêm từ 2,5 triệu đến 4 triệu đồng/năm/hộ. Tỷ lệ hộ nghèo tại địa bàn nghiên cứu giảm mạnh qua các năm, đồng thời số vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng giảm hơn 35% so với thời kỳ trước khi thực hiện cơ chế chi trả.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân tạo nên kết quả tích cực là việc kiện toàn bộ máy điều hành Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh theo Quyết định 69/2011/QĐ-UBND, kết hợp công tác tuyên truyền sâu rộng đến hơn 10% đồng bào dân tộc thiểu số tại vùng cao. Tuy nhiên, tình trạng nợ đọng, chậm nộp tiền dịch vụ môi trường rừng của một số chủ đầu tư thủy điện vẫn diễn ra. Mức lãi suất phạt chậm nộp tính theo lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước chỉ khoảng 0,65%/tháng chưa đủ sức răn đe đối với các doanh nghiệp chiếm dụng vốn.

So sánh với các địa phương khác như Lào Cai (thu hơn 29 tỷ đồng từ 70 đơn vị) hay Đắk Nông (chi trả hơn 56 tỷ đồng năm 2015), Nghệ An có lợi thế diện tích rừng lớn nhưng đơn giá chi trả trên mỗi hecta có sự chênh lệch lớn giữa lưu vực sông Cả và sông Chu do sản lượng điện và diện tích rừng lưu vực không đồng đều. Để làm rõ thực trạng này, dữ liệu nghiên cứu có thể được thể hiện qua bảng cân đối kế hoạch thu - chi hàng năm của 12 nhà máy thủy điện và biểu đồ so sánh cơ cấu phân bổ nguồn tiền chi trả theo hệ số K chất lượng rừng.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, mở rộng đối tượng thu và đa dạng hóa nguồn tài chính. Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An cùng Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cần ban hành đề án thí điểm thu tiền dịch vụ môi trường rừng đối với các cơ sở công nghiệp sử dụng nguồn nước trực tiếp và dịch vụ hấp thụ, lưu giữ carbon của rừng. Mục tiêu nâng tỷ trọng nguồn thu ngoài thủy điện lên mức 15% tổng thu quỹ vào năm 2025.

Thứ hai, hoàn thiện cơ chế điều tiết hệ số K và phân bổ tài chính liên lưu vực. Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh cần áp dụng đầy đủ Thông tư 22/2018/TT-BNNPTNT để tính toán hệ số K theo trạng thái rừng, vị trí địa lý và trữ lượng rừng. Thực hiện cơ chế điều hòa tài chính giữa các lưu vực có mức thu cao và lưu vực khó khăn, bảo đảm đơn giá chi trả tối thiểu cho người nhận khoán đạt từ 400.000 đồng/ha/năm trong giai đoạn 2020 - 2025.

Thứ ba, tái cơ cấu bộ máy quản lý và hiện đại hóa phương thức thanh toán. Quỹ tỉnh cần kiện toàn cơ cấu từ 2 phòng nghiệp vụ thành 4 phòng chuyên trách gồm: Phòng Hành chính, Phòng Kế toán - Tài vụ, Phòng Kế hoạch - Kỹ thuật và Phòng Giám sát - Truyền thông. Chuyển đổi 100% hình thức chi trả tiền mặt sang chi trả qua tài khoản ngân hàng và ứng dụng thanh toán số cho các hộ gia đình trước năm 2024 nhằm tăng tính minh bạch và giảm chi phí quản lý xuống dưới mức 8%.

Thứ tư, tăng cường chế tài pháp lý và ứng dụng công nghệ giám sát. Sở Tài chính và Chi cục Kiểm lâm cần áp dụng công nghệ viễn thám GIS để kiểm kê diện tích 888.695,7 ha rừng định kỳ hàng quý. Đồng thời, kiến nghị Bộ Tài chính nâng mức phạt chậm nộp tiền ủy thác lên gấp 2 lần lãi suất cho vay thương mại nhằm chấm dứt tình trạng nợ đọng kinh phí của các nhà máy thủy điện.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các cơ quan quản lý nhà nước như Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Tài chính và Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tại Nghệ An cũng như các tỉnh khu vực Bắc Trung Bộ. Luận văn cung cấp luận cứ thực tiễn để xây dựng kế hoạch điều phối dòng tiền, thẩm định dự toán chi phí quản lý 10% và thiết lập quỹ dự phòng 5% hỗ trợ rủi ro thiên tai.

Thứ hai, ban giám đốc các doanh nghiệp sản xuất thủy điện, công ty kinh doanh nước sạch và doanh nghiệp du lịch sinh thái. Tài liệu giúp doanh nghiệp nắm vững phương pháp hạch toán chi phí dịch vụ môi trường rừng theo định mức 36 đồng/kWh điện hoặc 52 đồng/m3 nước sạch vào giá thành sản phẩm một cách hợp lệ và minh bạch.

Thứ three, các ban quản lý rừng phòng hộ, ban quản lý rừng đặc dụng và chính quyền cấp xã vùng đệm. Luận văn cung cấp quy trình nghiệm thu diện tích rừng theo hệ số K, thủ tục giải ngân kinh phí nhận khoán cho cộng đồng dân cư thôn và cách thức thiết lập quỹ phát triển thôn bản.

Thứ tư, các giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế tài nguyên môi trường và Lâm nghiệp. Công trình là tài liệu tham khảo giá trị về mô hình kinh tế môi trường, phương pháp chọn mẫu phân tầng và quy trình xử lý dữ liệu chi trả dịch vụ hệ sinh thái trong thực tiễn.

Câu hỏi thường gặp

Nguồn thu dịch vụ môi trường rừng tại Nghệ An chủ yếu đến từ đâu?

Nguồn thu chính bắt nguồn từ 12 nhà máy thủy điện trên địa bàn tỉnh, chiếm hơn 95% tổng thu của Quỹ tỉnh với đơn giá 36 đồng/kWh điện thương phẩm. Nguồn thu còn lại đến từ 5 cơ sở sản xuất nước sạch với mức 52 đồng/m3 và các đơn vị kinh doanh du lịch sinh thái trích nộp từ 1% đến 2% trên tổng doanh thu.

Tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng được phân bổ như thế nào?

Căn cứ theo quy định, tổng nguồn thu sau khi nộp về Quỹ tỉnh được trích tối đa không quá 10% cho chi phí quản lý bộ máy và tối đa 5% cho quỹ dự phòng thiên tai, hạn hán. Khoảng 85% nguồn kinh phí còn lại được giải ngân trọn vẹn cho các chủ rừng cung ứng dịch vụ môi trường theo diện tích nghiệm thu.

Chủ rừng là tổ chức nhà nước sử dụng nguồn tiền chi trả ra sao?

Các ban quản lý rừng phòng hộ và công ty lâm nghiệp được phép giữ lại 10% trên tổng số tiền nhận được để phục vụ công tác lập hồ sơ, kiểm tra, nghiệm thu và đánh giá chất lượng rừng. Phần kinh phí 90% còn lại bắt buộc phải thanh toán trực tiếp cho các hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng nhận khoán bảo vệ rừng.

Tại sao mức chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng giữa các khu vực lại khác nhau?

Đơn giá chi trả tính trên mỗi hecta phụ thuộc vào sản lượng điện thương phẩm của từng nhà máy thủy điện trong lưu vực, tổng diện tích rừng cung ứng dịch vụ của lưu vực đó và hệ số K điều chỉnh theo trạng thái, nguồn gốc rừng tự nhiên hay rừng trồng theo quy định tại Thông tư 22/2018/TT-BNNPTNT.

Chính sách này đóng góp gì vào việc cải thiện sinh kế của người dân miền núi?

Chính sách giúp tạo thu nhập bổ sung ổn định từ 2,5 triệu đến 4 triệu đồng/năm cho mỗi hộ nhận khoán bảo vệ rừng tại các huyện nghèo như Tương Dương, Kỳ Sơn. Nguồn tài chính này hỗ trợ trực tiếp cho hơn 10,91% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số, góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo và tạo động lực giữ rừng bền vững.

Kết luận

  • Luận văn hoàn thiện hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý tài chính dịch vụ môi trường rừng theo Nghị định 99/2010/NĐ-CP và Nghị định 147/2017/NĐ-CP tại địa bàn tỉnh Nghệ An.
  • Khẳng định vai trò của 888.695,7 ha rừng với độ che phủ 57,2% trong việc tạo lập nguồn tài chính mới ngoài ngân sách từ 12 cơ sở thủy điện và 5 nhà máy nước sạch.
  • Phân tích rõ cơ chế giải ngân minh bạch với định mức trích 10% quản lý, 5% dự phòng và 85% chi trả cho chủ rừng, góp phần nâng cao sinh kế cho các hộ nhận khoán và giảm hơn 35% vụ vi phạm lâm luật.
  • Nhận diện những hạn chế về tình trạng chậm nộp tiền ủy thác, mức lãi suất phạt thấp 0,65%/tháng và sự chênh lệch đơn giá thụ hưởng giữa các lưu vực sông.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược bao gồm mở rộng diện tích thu phí carbon, tối ưu hóa hệ số K, kiện toàn 4 phòng chuyên môn của Quỹ và ứng dụng GIS kiểm kê rừng đến năm 2025.

Công trình là tài liệu khoa học hữu ích, cung cấp khung giải pháp toàn diện cho các nhà quản lý, doanh nghiệp và nhà nghiên cứu trong việc nâng cao hiệu quả quản trị tài chính tài nguyên rừng. Bạn đọc quan tâm có thể ứng dụng các mô hình phân bổ và hệ thống chỉ tiêu trong luận văn để triển khai thực tế tại các địa phương có điều kiện tự nhiên tương đồng.