Chương 1 đã nêu một cách tổng quát về tình hình nghiên cứu, phương pháp thực hiện luận văn, cụ thể như: Nêu rõ được tính cấp thiết của đề tài hiện nay; Tổng quan các nghiên cứu; Mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu cũng như phương pháp nghiên cứu của đề tài. 11 CHƯƠNG 2 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2. Rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại 2. Khái niệm về tín dụng Tín dụng với quan niệm chung nhất đó là quan hệ vay mượn có hoàn trả, có mục đích và có thời hạn, ra đời, tồn tại qua nhiều hình thái kinh tế xã hội khác nhau, với mức độ phát triển khác nhau.
Khi chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất được hình thành, cũng đồng thời xuất hiện quan hệ trao đổi hàng hóa, tư liệu sản xuất,… giữa các chủ thể khác nhau. Thời kỳ này, tín dụng được thực hiện dưới hình thức vay mượn bằng hiện vật - hàng hóa. Theo tiến trình phát triển của lịch sử, tín dụng đã dần chuyển sang hình thức vay mượn bằng tiền tệ. Thực chất, tín dụng là biểu hiện mối quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng một khoản tiền vốn nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu vốn tạm thời cho quá trình tái sản xuất và đời sống, theo nguyên tắc có hoàn trả, có mục đích, có bảo đảm bằng các hình thức khác nhau, bao gồm cả tín chấp, lòng tin lẫn nhau,… Theo Khoản 14, Điều 4, Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 16/06/2010 thì [16]: Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.
Khái niệm rủi ro tín dụng ngân hàng Rủi ro tín dụng ngân hàng là một rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ (một phần hoặc toàn bộ) hay trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng. Theo Khoản 1, Điều 2, Quyết định số 493/QĐ-NHNN của Thống đốc NHNN Việt Nam [14]: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết” 2. Biểu hiện của rủi ro tín dụng ngân hàng thương mại Biểu hiện RRTD từ góc độ quản lý của NHTM có thể thấy khái quát ở sơ đồ hình 2. Như vậy, biểu hiện RRTD thể hiện chung nhất là khách hàng không thực hiện cam kết theo thỏa thuận hợp đồng tín dụng, bao gồm hoàn trả nợ gốc, lãi.
12 Trong điều kiện ngày nay, thị trường tài chính quốc tế phát triển mạnh mẽ, cùng với sự đổi mới nhanh chóng của các công cụ tài chính đã cung cấp hàng loạt các dịch vụ sản phẩm mới. Xu hướng mang lại lợi nhuận từ hoạt động tín dụng không còn hấp dẫn như trước đây, nhưng có thể nói trong hiện tại cũng như tương lai, nghiệp vụ tín dụng vẫn là hoạt động cơ bản và cốt lõi của NHTM. Vì vậy, việc nâng cao chất lượng quản lý NHTM trở thành vấn đề cấp bách và đòi hỏi có những thay đổi đáng kể trong cách thức tiếp cận với quá trình quản lý của hoạt động NHTM. Vấn đề RRTD và QLRRTD cũng cần được nghiên cứu và xem xét đến trong mối tương quan với những thay đổi của thị trường tài chính và phương thức quản trị trung gian tài chính.
RỦI RO TÍN DỤNG Không thu được lãi Không thu Không Không thu đủ vốn đúng hạn thu đủ lãi vốn vay đúng hạn Phát sinh Phát sinh Phát sinh lãi Phát sinh nợ lãi treo nợ quá hạn treo đóng băng khó đòi Thanh khoản giảm, hiệu quả kinh doanh giảm, thất thoát vốn, phá sản Hình 2. Biểu hiện của rủi ro tín dụng. (Nguồn: Nguyễn Văn Tiến, 2003[20]) Có nhiều cách tiếp cận khác nhau, nhưng nhìn chung có thể coi, RRTD là tổn thất về tài chính (trực tiếp hoặc gián tiếp) xuất phát từ người đi vay không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ đúng hạn theo cam kết hoặc mất khả năng thanh toán. Điều này cũng có nghĩa là các khoản thanh toán bao gồm cả phần gốc cũng như lãi như cam kết sẽ có thể bị trì hoãn hoặc thậm chí là không được hoàn trả và hậu quả là sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự luân chuyển tiền tệ và sự bền vững của NHTM.
Đặc điểm rủi ro tín dụng ngân hàng Nghiên cứu những đặc điểm cơ bản của RRTD có ý nghĩa quan trọng đối với việc xác định, đo lường, phòng ngừa, hạn chế và kiểm soát nó. Rủi ro tín dụng có những đặc điểm sau: * Tính gián tiếp: trong quan hệ tín dụng, ngân hàng chuyển giao quyền sử 13 dụng vốn cho khách hàng trong một thời gian nhất định nên những thiệt hại thất thoát về vốn xảy ra trước hết là do quá trình sử dụng vốn của khách hàng. Xuất phát từ đặc điểm này, biện pháp phòng ngừa và hạn chế RRTD là cần thiết lập một hệ thống thông tin theo dõi dấu hiệu rủi ro, xây dựng và đảm bảo mối quan hệ minh bạch giữa nhân viên tín dụng và khách hàng vay vốn. * Tính đa dạng và sự phức tạp: sự đa dạng, phức tạp của nguyên nhân, hình thức, hậu quả RRTD dẫn đến đặc điểm này.
Đây là đặc điểm tất yếu vì ngân hàng là một doanh nghiệp đặc biệt, là trung gian tài chính kinh doanh tiền tệ. Đặc điểm này là hệ quả của đặc điểm thứ nhất khiến RRTD ngày càng được quan tâm, nghiên cứu, xem xét cẩn trọng với các TCTD. * Tính tất yếu: tức nó luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động kinh doanh của một TCTD. Phân lọai rủi ro tín dụng ngân hàng [4] Có nhiều cách phân loại và tiếp cận RRTD khác nhau, tuy nhiên, để phân loại chính xác cần căn cứ vào các vấn đề sau: - Căn cứ vào mức độ tổn thất, có thể chia RRTD ra làm 2 loại là rủi ro mất vốn và rủi ro đọng vốn.
+ Rủi ro mất vốn: Là rủi ro khi người vay không có khả năng trả được nợ theo hợp đồng, bao gồm vốn gốc hoặc lãi vay, ngân hàng chỉ trông chờ vào giá trị thanh lý tài sản của doanh nghiệp. Rủi ro mất vốn sẽ làm tăng chi phí do nợ khó đòi tăng, chi phí quản trị, chi phí giám sát; giảm lợi nhuận do các khoản dự phòng gia tăng cho những khoản vốn mất đi. + Rủi ro đọng vốn: Là rủi ro xảy ra trong trường hợp đến hạn mà ngân hàng vẫn chưa thu hồi vốn vay, dẫn đến các khoản vốn bị đông cứng và ảnh hưởng đến ngân hàng trên hai phương diện: (i) Ảnh hưởng đến kế hoạch sử dụng vốn của ngân hàng; (ii) gặp khó khăn cho việc thanh toán cho khách hàng. - Căn cứ theo đối tượng sử dụng, có thể chia làm ba nhóm: Rủi ro khách hàng cá thể; Rủi ro công ty, tổ chức kinh tế, định chế tài chính; Rủi ro quốc gia hay khu vực địa lý.
- Căn cứ phạm vi của RRTD, có thể phân chia RRTD thành rủi ro cá biệt và rủi ro hệ thống. + Rủi ro tín dụng cá biệt: Xảy ra đối với một khoản vay của một khách hàng cụ thể, thuộc một nhóm ngành cụ thể. RRTD cá biệt do một số nguyên nhân: (i) Đặc điểm ngành và loại hình kinh tế của khách hàng; (ii) Tình hình tài chính của khách hàng; (iii) Khả năng quản trị của khách hàng; (iv) Đạo đức khách hàng; (v) Nguyên nhân khác. + Rủi ro tín dụng hệ thống: Xảy ra không chỉ đối với một ngân hàng mà mang tính chất hệ thống, lan truyền đến cả khu vực ngân hàng.
Nguyên nhân của rủi ro hệ 14 thống bao gồm: Sự thay đổi chính sách thể hiện ở chính sách tài chính tiền tệ, chính sách thuế, chính sách xuất nhập khẩu,. Các yếu tố vĩ mô của nền kinh tế ảnh hưởng đến rủi ro hệ thống bao gồm: Tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp, GDP, chỉ số chứng khoán, chỉ số giá tiêu dùng; luật pháp và môi trường đầu tư và các yếu tố bất khả kháng. Để hạn chế rủi ro này, thay vì đa dạng hóa hoạt động tín dụng, ngân hàng cần phải thực hiện tốt công tác dự báo tình hình kinh tế vĩ mô, các tác động của lạm phát, thất nghiệp, các chính sách sắp đến của Chính phủ và chủ động đưa ra các giải pháp quản lý rủi ro phù hợp. Tiêu chí đánh giá rủi ro tín dụng ngân hàng [4] a.
Các chỉ tiêu trực tiếp đánh giá rủi ro tín dụng Các chỉ tiêu đánh giá RRTD tại các ngân hàng thương mại có vai trò đặc biệt quan trọng vì nó trực tiếp phản ánh RRTD của ngân hàng, cụ thể: * Nợ quá hạn: Là chỉ tiêu cơ bản phản ánh RRTD. Nợ quá hạn sẽ phát sinh khi đến thời hạn trả nợ theo cam kết, người vay không có khả năng trả được nợ một phần hay toàn bộ khoản vay cho người cho vay. Tùy theo thời gian quá hạn, khoản nợ này sẽ được xác định là nợ đủ tiêu chuẩn, nợ cần chú ý, nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ, hoặc là nợ có khả năng mất vốn,. Nợ quá hạn được phản ánh qua chỉ tiêu sau: Tỷ lệ nợ quá hạn = Số dư nợ quá hạn/Tổng dư nợ Nếu ngân hàng có tỷ lệ nợ quá hạn lớn thì ngân hàng đó đang có mức rủi ro cao và ngược lại.
* Nợ xấu: Là các khoản tiền cho khách hàng vay, mà khó hoặc không thể thu hồi được do khách hàng đó làm ăn thua lỗ hoặc phá sản, nợ phải trả tăng, khách hàng mất khả năng thanh toán,. Nợ xấu sẽ phản ánh một cách rõ nét chất lượng tín dụng của ngân hàng và là tiêu chí đánh giá rủi ro của khoản vay. Nợ xấu được phản ánh qua các chỉ số: Tỷ lệ nợ xấu = Nợ xấu/Tổng dư nợ Tỷ lệ Nợ có khả năng mất vốn/Tổng nợ xấu * Dự phòng rủi ro cho vay: DPRR đánh giá khả năng chi trả của ngân hàng khi rủi ro xảy ra.