Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC CẤP TỈNH ĐỐI VỚI RỦI RO TÁC NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Cơ sở lý luận về quản lý của Ngân hàng Nhà nước cấp tỉnh đối với rủi ro tác nghiệp của Ngân hàng thương mại 1. Rủi ro trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm rủi ro Hiểu một cách chung nhất, rủi ro là những sự kiện có thể làm mất mát tài sản hay làm phát sinh một khoản nợ.
Định nghĩa hiện đại về rủi ro bao hàm nghĩa rộng hơn và không chỉ tính đến rủi ro tài chính mà còn bao gồm cả những rủi ro liên quan đến những mục tiêu hoạt động và mục tiêu chiến lược, theo đó rủi ro là khả năng những sự kiện chưa chắc chắn trong tương lai sẽ làm cho chủ thể không đạt được những mục tiêu chiến lược và mục tiêu hoạt động, cũng như chi phí cơ hội của việc làm mất những cơ hội thị trường. Như vậy, rủi ro có thể được định nghĩa khái quát là: Những điều không chắc chắn của những kết quả trong tương lai hay là những khả năng của những kết quả bất lợi” (Phan Thị Bích Nguyệt, 2006). Theo tài liệu do Ủy ban chứng khoán nhà nước (SSC) cung cấp sử dụng trong hội thảo - Quản lý rủi ro đối với Ngân hàng thương mại” tại thành phố Hồ Chí Minh ngày 4&5 tháng 8 năm 2006: Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng là khả năng một hành động hoặc một sự kiện nào đó có thể đem lại những kết quả bất lợi ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn thu nhập hay nguồn vốn của tổ chức hoặc tạo ra các trở ngại ngăn cản tổ chức tiếp tục kinh doanh và tận dụng cơ hội tạo ra lợi nhuận”. Một số loại rủi ro thường gặp trong kinh doanh ngân hàng Thứ nhất, nếu căn cứ theo phạm trù rủi ro, thì rủi ro trong kinh doanh ngân hàng được phân chia loại thành 4 nhóm.1: Phân loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng (Nguồn: Tổng hợp của tác giả) Sơ đồ 1.1 cho thấy 4 nhóm rủi ro trong kinh doanh ngân hàng bao gồm: rủi ro tài chính, rủi ro hoạt động, rủi ro kinh doanh/kinh tế và rủi ro sự cố.
Trên thực tế, Ủy ban Basel1 đã phân loại rủi ro trong kinh doanh ngân hàng thành 3 loại chính là rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động. Bên cạnh đó, rủi ro còn được phân loại thành rủi ro thanh khoản, rủi ro danh tiếng, rủi ro pháp lý và rủi ro chính sách. Các loại rủi ro này được mô tả trong Sơ đồ 1. 1 Ủy ban Basel: Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (BCBS) được thành lập sau sự sụp đổ của một loạt các ngân hàng vào thập kỷ 70 bởi Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS) đặt tại Basel, Switzerland nhằm đưa ra cách thức tốt hơn để đo lường vốn tối thiểu các Ngân hàng cần nắm giữ để đảm bảo bù đắp rủi ro.2: Phân loại rủi ro theo Hiệp ước Basel II (Nguồn: Tổng hợp của tác giả dựa trên nội dung phân loại rủi ro của Hiệp ước vốn Basel II) Thứ hai, nếu căn cứ theo phạm vi ảnh hưởng, rủi ro trong kinh doanh ngân hàng còn có thể chia làm 2 loại là rủi ro hệ thống và rủi ro đặc thù: Rủi ro hệ thống còn được gọi là rủi ro thị trường.
Rủi ro hệ thống liên quan đến các yếu tố ảnh hưởng đến nền kinh tế hay đến phân khúc thị trường chứng khoán. Rủi ro này ảnh hưởng đến tất cả các công ty bất kể tình trạng tài chính hoặc quản lý của công ty. Tùy thuộc vào đầu tư, nó có thể liên quan đến yếu tố quốc tế cũng như là các yếu tố nội địa. Ví dụ, rủi ro hệ thống bao gồm rủi ro lãi suất, rủi ro lạm phát, rủi ro tiền tệ và rủi ro chính lý xã hội.
Rủi ro hệ thống có thể được giảm nhẹ bằng chiến lược gọi là phân bổ tài sản. Điều này liên quan đến việc tạo ra một danh mục đầu tư gồm những tài sản không có sự liên quan. Trong một danh mục đầu tư gồm những tài sản có sự tương quan, khi có sự kiện hệ thống xảy ra, tất cả chứng khoán sẽ cùng lúc tăng hoặc giảm giá. Khi một danh mục đầu tư được phân bổ trên những tài sản không tương quan, một sự kiện hệ thống có thể làm một số tài sản mất giá, trong khi những tài sản khác có thể không bị ảnh hưởng, hoặc thậm chí còn tăng giá.
Phân bổ tài sản 8 giúp giảm rủi ro và dàn trải trên toàn danh mục của bạn. Rủi ro đặc thù còn được gọi là rủi ro phi hệ thống, rủi ro cụ thể làm ảnh hưởng đến ít số lượng công ty hoặc đầu tư hơn. Nhìn chung, rủi ro đặc thù liên quan đến khoản đầu tư vào một sản phẩm, công ty hay ngành công nghiệp đặc thù. Rủi ro đặc thù bao gồm rủi ro quản lý, rủi ro pháp lý, rủi ro của bên thứ ba và rủi ro tín dụng.
(1) Rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng là rủi ro tiềm ẩn đối với thu nhập hoặc vốn phát sinh khi người vay hoặc đối tác không thực hiện đúng điều khoản của hợp đồng hoặc không thực hiện đầy đủ như thỏa thuận tại điều khoản của hợp đồng Rủi ro tín dụng là loại rủi ro dễ nhận thấy nhất liên quan đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Tuy nhiên, định nghĩa này hàm chứa nhiều khía cạnh hơn một định nghĩa truyền thống vốn cho rằng rủi ro tín dụng chỉ liên quan đến các hoạt động cho vay. Rủi ro tín dụng cũng phát sinh trong nhiều loại hoạt động ngân hàng, kể cả việc lựa chọn các sản phẩm cho danh mục đầu tư, các chi nhánh, đại lý, các đối tác kinh doanh sản phẩm phái sinh hay các đối tác ngoại hối. Rủi ro tín dụng cũng có thể phát sinh từ rủi ro quốc gia, cũng như phát sinh một cách gián tiếp thông qua hoạt động bảo lãnh.
Rủi ro tín dụng tồn tại trên cả nội bảng và ngoại bảng cân đối của ngân hàng. Rõ ràng rủi ro tín dụng phát sinh từ các món cho vay nhưng còn có các nguồn khác gây ra rủi ro tín dụng như: + Tài trợ và chấp thuận thương mại; + Giao dịch liên ngân hàng; + Cam kết và bảo lãnh; + Các phái sinh lãi suất, ngoại hối, tín dụng (kể cả hợp đồng hoán đổi, quyền chọn, các hợp đồng kỳ hạn lãi suất, và các hợp đồng tài chính tương lai); + Nắm giữ trái phiếu và cổ phiếu; + Thực hiện giao dịch. Các loại giao dịch được liệt kê trên đây có thể chứa đựng các rủi ro khác nhưng rủi ro tín dụng là nổi bật nhất xuất phát từ việc không thực hiện như kế hoạch và thoả thuận. Rủi ro tín dụng có ở trong từng loại giao dịch được liệt kê này.
9 Ví dụ: khi tất cả các điều kiện của một thư tín dụng tài trợ thương mại đã được đáp ứng thì ngân hàng phát hành thư tín dụng đó phải thanh toán. Nếu người xin mở thư tín dụng không thể thanh toán cho ngân hàng phát hành thì rủi ro tín dụng sẽ chuyển thành tổn thất tín dụng. (2) Rủi ro Thị trường Rủi ro thị trường là rủi ro tiềm ẩn xảy ra tại một tổ chức tín dụng nào khi có những biến động giá cả thị trường gây ảnh hưởng bất lợi đến thu nhập hoặc vốn của tổ chức tín dụng. Rủi ro thị trường có nhiều hình thức nên được chia ra làm 3 loại là rủi ro lãi suất, rủi ro ngoại hối, và rủi ro giá cả.
Ba loại này nằm trong khái niệm rộng về rủi ro thị trường cũng như phù hợp với cách thức đo lường rủi ro này trong nội bộ ngân hàng. Rủi ro lãi suất cũng có thể phân thành các loại nhỏ hơn, chính xác hơn để định rõ nguồn gốc gây ra rủi ro lãi suất ở nội và ngoại bảng cân đối của một ngân hàng. (3) Rủi ro lãi suất Rủi ro lãi suất là rủi ro tiềm ẩn có ảnh hưởng bất lợi đến thu nhập hoặc vốn phát sinh từ những biến động về lãi suất. (4) Rủi ro ngoại hối Rủi ro ngoại hối là rủi ro tiềm ẩn đối với thu nhập hoặc vốn phát sinh do có sự biến động của tỷ giá ngoại hối.
Rủi ro này chủ yếu xảy ra trong thời gian tổ chức tín dụng có trạng thái mở, ở cả nội bảng và ngoại bảng, và/ hoặc trên thị trường giao ngay hoặc thị trường kỳ hạn. Rủi ro này có liên quan đến cả các hoạt động đầu tư và kinh doanh xuyên quốc gia, cũng như hoạt động kinh doanh và đầu tư nội địa bằng ngoại tệ bao gồm các khoản vay, các khoản tiền gửi, các khoản đầu tư vốn cổ phần (ví dụ như đầu tư xuyên quốc gia). Các quy tắc kế toán đòi hỏi định kỳ phải đánh giá lại các tài khoản này với tỷ giá giao ngay hiện tại. Việc đánh giá lại phải này chuyển đổi tài khoản ngoại tệ sang đồng Việt Nam.
Tổ chức tín dụng phải chịu các rủi ro khác nữa liên quan đến tài sản có và tài sản nợ bằng ngoại tệ. Rủi ro tác nghiệp phải được đánh giá cho mỗi loại tiền tệ mà tổ chức tín dụng có các hạng mục tài sản chủ yếu. Việc tăng giá lý tiền tệ cũng có thể ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng, đặc biệt là đối với người đi vay phải trả những khoản nợ bằng loại tiền có giá lý đang tăng lên. 10 (5) Rủi ro biến động giá Rủi ro biến động giá là rủi ro tiềm ẩn có tác động xấu đến vốn hoặc thu nhập do có những thay đổi bất lợi về giá lý của các công cụ tài chính và các khoản đầu tư hay tài sản có do tổ chức tín dụng hay các đơn vị trực thuộc nắm giữ, cả nội và ngoại bảng, do có thay đổi về giá lý hay giá thị trường.
Khi giá lý của một trong các công ty và dự án thay đổi thì các giá lý mà tổ chức tín dụng nắm giữ cũng sẽ thay đổi theo. Các giá lý có thể thay đổi do hoạt động của công ty, do thay đổi trên bảng cân đối kế toán hoặc do những thay đổi về giá cổ phiếu được kinh doanh trên thị trường chứng khoán. Các trạng thái này được định giá theo giá lý trường theo các quy định kế toán để thể hiện chính xác giá lý của mỗi trạng thái mà tổ chức tín dụng nắm giữ.