Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ SỰ PHỐI HỢP CỦA NHÀ TRƯỜNG VỚI GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI TRONG VIỆC HẠN CHẾ TÌNH TRẠNG BỎ HỌC CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Giáo dục mang bản chất xã hội, là một trong các chất kết dính cộng đồng, là động lực phát triển kinh tế - xã hội, sự phát triển của giáo dục không thể tách rời với sự phát triển của cộng đồng cũng như sự phát triển của kinh tế - xã hội. Để giáo dục phát triển đáp ứng với yêu cầu phát triển của đất nước, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến việc làm sao để kết hợp nhà trường với gia đình và xã hội. Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII, Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII, Luật giáo dục và nhiều văn bản pháp luật khác đã xác định nội hàm của khái niệm xã hội hóa.
Ý nghĩa phổ biến nhất là tổ chức cho toàn xã hội làm giáo dục: Vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội vào sự nghiệp giáo dục. Xây dựng cộng đồng trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân đối với việc tạo ra môi trường giáo dục lành mạnh. Mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác các tiềm năng về nguồn nhân lực, vật lực và tài lực trong xã hội. Phát huy có hiệu quả các nguồn lực, tạo điều kiện cho các hoạt động giáo dục - đào tạo phát triển nhanh, bền vững và có chất lượng cao.
Đề án Quy hoạch phát triển xã hội hóa giáo dục giai đoạn 2005-2010 của Bộ giáo dục và đào tạo chỉ rõ: Thực hiện xã hội hóa giáo dục nhằm phát huy tiềm năng, trí tuệ và vật chất trong nhân dân, huy động toàn xã hội được hưởng thụ thành quả giáo dục ở mức độ ngày càng cao. 10 Với tư tưởng “lấy dân làm gốc”, Đảng đã vận dụng sáng tạo vào sự nghiệp giáo dục của nước nhà. Ngay sau những ngày đầu Cách mạng tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra “Lời kêu gọi chống nạn thất học”, “Ai cũng được học hành”. Việc huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân cùng góp sức xây dựng nền giáo dục, Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII chỉ rõ: “Giáo dục là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân”.
Đến Nghị quyết Trung ương 6 khóa IX, Đảng ta khẳng định: “Đẩy mạnh xã hội hóa sự nghiệp giáo dục, xây dựng xã hội học tập, coi giáo dục là sự nghiệp của toàn dân, là giải pháp quan trọng để tiếp tục phát triển giáo dục”. Đại hội X, Đảng chỉ rõ: “Thực hiện xã hội hóa giáo dục. Huy động nguồn lực vật chất và trí tuệ của xã hội tham gia chăm lo sự nghiệp giáo dục. Phối hợp chặt chẽ giữa ngành giáo dục với các ban, ngành, các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp,… để mở mang giáo dục, tạo điều kiện học tập cho mọi thành viên trong xã hội.” [17] Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế đã chỉ rõ: “Quán triệt sâu sắc và cụ thể hóa các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục và đào tạo trong hệ thống chính trị, ngành giáo dục và đào tạo và toàn xã hội, tạo sự đồng thuận cao, coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu.
Nâng cao nhận thức về vai trò quyết định chất lượng giáo dục và đào tạo của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; người học là chủ thể trung tâm của quá trình giáo dục; gia đình có trách nhiệm phối hợp với nhà trường và xã 11 hội trong việc giáo dục nhân cách, lối sống cho con em mình”. “Đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở giáo dục - đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới tất cả các bậc học, ngành học.” [19] Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP ngày 18/4/2005 của Chính phủ về việc đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục thể thao. Nghị định số 20/2014/NQ-CP ngày 24/3/2014 của Chính phủ về phổ cập giáo dục, xóa mù chữ. Nhằm tìm biện pháp quản lý sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong việc chăm lo cho công tác giáo dục, thời gian qua một số luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục cũng đã tiến hành nghiên cứu như: Đề tài: “Quản lý công tác phối hợp giữa nhà trường với cha mẹ học sinh ở các trường THCS vùng nông thôn thị xã Bà Rịa”, của tác giả Dương Văn Thạnh (2007); đề tài: “Thực trạng quản lý sự phối hợp giữa nhà trường - gia đình trong công tác giáo dục học sinh ở các trường THPT huyện Cần Đước, tỉnh Long An” của tác giả Hồ Văn Thơm (2009); đề tài: “Thực trạng và giải pháp vấn đề bỏ học của học sinh THCS tại quận Thủ Đức-TP.Hồ Chí Minh” của nhóm tác giả Trần Hữu Linh, Phạm Thị Thu, Tô Thị Hà (2008); đề tài: “Biện pháp quản lý của lãnh đạo trường THPT về việc phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục ở thành phố Thái Bình hiện nay”; đề tài: ‘Quản lý công tác xã hội hóa giáo dục trung học cơ sở tỉnh Hòa Bình nhằm khắc phục tình trạng học sinh bỏ học”.
Những công trình trên, các tác giả cho chúng ta thấy được tầm quan trọng của sự phối hợp giữa gia đình với nhà trường và xã hội, công tác xã hội hoá trong việc giáo dục học sinh, hạn chế học sinh bỏ học; đồng thời đã xây dựng cơ 12 sở lý luận và đưa ra những giải pháp phối hợp như xây dựng kế hoạch, tăng cường nhận thức về công tác phối hợp, tăng cường năng lực của giáo viên chủ nhiệm,… đã góp phần giúp công tác giáo dục đạt hiệu quả, ngăn chặn tình trạng học sinh THCS bỏ học để đạt được mục tiêu giáo dục THCS. Tại tỉnh Phú Yên, để thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và trung học cơ sở với chất lượng cao theo Chỉ thị số 10-CT/W ngày 05/12/2011 của Bộ Chính trị, UBND tỉnh Phú Yên có Kế hoạch số 19/KH- UBND ngày 14/3/2012 với các mục tiêu cụ thể: "Đến năm 2015: Tiếp tục củng cố, công nhận và giữ vững phổ cập giáo dục tiểu học – xoá mù chữ, 100% xã (phường, thị trấn) đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức độ 1 và 30% xã (phương, thị trấn) đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 2; 80% xã (phường, thị trấn) có tỷ lệ thanh thiếu niên 15 – 18 tuổi có bằng tốt nghiệp THCS trên 80%; phấn đấu toàn tỉnh hoàn thành mục tiêu phổ cập mầm non cho trẻ 5 tuổi; tỷ lệ học sinh đi học trong độ tuổi tăng khá (tiểu học: 95%, THCS: 90%, THPT: 60%). Đến năm 2020: Giữ vững chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi, nâng số xã (phường, thị trấn) đạt chuẩn phổ cập tiểu học đúng độ tuổi mức độ 2 lên 50%; trên 90% xã (phường, thị trấn) có tỷ lệ thanh thiếu niên 15 – 18 tuổi có bằng tốt nghiệp THCS trên 80%; tỷ lệ học sinh đi học trong độ tuổi tăng nhanh (tiểu học: 99%, THCS: 95%, THPT 80%); tỷ lệ lưu ban và bỏ học ở trung học dưới 1%; phấn đấu có khoảng 30% học sinh sau khi tốt nghiệp trung học cơ sở đi học nghề; cơ bản xoá mù chữ cho người từ 36 tuổi đến hết tuổi lao động.”[45] 13 Để thực hiện mục tiêu đề ra, tỉnh ủy Phú Yên có công văn về “Cuộc vận động tiếp bước cho em đến trường”; Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Phú Yên và Công đoàn ngành có công văn liên tịch số 02/LT-SGDĐT-CĐN ngày 28 tháng 9 năm 2012 về việc vận động “Mỗi cán bộ, giáo viên ngành Giáo dục nhận đỡ đầu một học sinh có nguy cơ bỏ học vì nghèo hay học yếu”; hè năm 2015, trước tình hình học sinh bỏ học – không đến lớp sau hè rất nhiều, ban chỉ đạo cuộc vận động “Tiếp bước cho em đến trường” của huyện Tuy An có công văn số 04-CV/BCĐ ngày 21 tháng 10 năm 2015 “Về việc vận động học sinh không ra lớp sau hè 2015 trở lại lớp”; Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Tuy An có công văn số 466 /PGDĐT ngày 15 tháng 9 năm 2014 “Về việc vận động học sinh bỏ học ra lớp”. Nhưng cho đến nay, ở tỉnh Phú Yên chưa có công trình khoa học hay đề tài nào đề cập đến biện pháp quản lý sự phối hợp các lực lượng nhà trường, gia đình và xã hội để hạn tình trạng học sinh bỏ học nói chung cũng như học sinh trung học cơ sở bỏ học nói riêng.
Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài này có ý nghĩa tích cực cả về mặt lý luận và thực tiễn nhằm góp phần hạn chế tình trạng bỏ học của học sinh THCS ở các xã ven biển thuộc huyện Tuy An nói riêng và của tỉnh Phú Yên nói chung. Các khái niệm chính của đề tài 1. Quản lý Xuất phát trên nhiều bình diện, quan niệm, tư tưởng và thời kỳ khác nhau nên có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý. Theo đại từ điển tiếng Việt (1990): Quản lý là trông coi, gìn giữ theo những yêu cầu nhất định, tổ chức và hoạt động theo những nhu cầu nhất định.
Theo tác giả Vũ Dũng: “Quản lý là sự tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch và có hệ thống thông tin của chủ thể đến khách thể của nó. 47] 14 Tác giả Phan Văn Kha cho rằng: “Quản lý là hoạt động lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra quá trình tự nhiên, xã hội, khoa học, kỹ thuật và công nghệ để chúng phát triển hợp quy luật, các nguồn lực (hiện hữu và tiềm năng), vật chất và tinh thần, hệ thống tổ chức và các thành viên thuộc hệ thống, các hoạt động để đạt được mục đích đã định.