Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng xã hội trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh nội trú tại trường trung học phổ thông. Thực trạng quản lý sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng xã hội trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh nội trú của một số trường trung học phổ thông tại Thành phố Hồ Chí Minh. Biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng xã hội trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh nội trú của một số trường trung học phổ thông tại Thành phố Hồ Chí Minh.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ SỰ PHỐI HỢP GIỮA NHÀ TRƢỜNG, GIA ĐÌNH VÀ CỘNG ĐỒNG XÃ HỘI TRONG VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH NỘI TRÚ TẠI TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Ở nước ngoài Phối hợp và quản lý sự phối hợp giữa NT, GĐ & CĐXH trong giáo dục HS từ lâu đã được xã hội cũng như những người làm công tác giáo dục quan tâm và rất coi trọng. Ở các nước phương Tây, các nhà giáo dục đã nhận thấy được hiệu quả của hoạt động phối hợp và quản lý hoạt động phối hợp giữa NT, GĐ & CĐXH trong việc thực hiện các mục tiêu giáo dục toàn diện cho HS trong đó có hoạt động giáo dục nghề nghiệp.
Sự phối hợp giữa NT, GĐ & CĐXH không những góp phần hiệu quả vào việc định hướng tương lai cho người học mà còn động lực mạnh mẽ giúp cho HS có thêm ý chí, niềm tin và sự quyết tâm trong học tập và trong rèn luyện để phát triển toàn diện: Trong tác phẩm “Hệ thống giáo dục” năm 1951 (được trích dẫn bởi Nguyễn Sinh Huy, 2001), Talcott Parsons cho rằng: “Giáo dục có vai trò như một môi trường xã hội”. Theo Talcott Parsons, trong giáo dục HS phải có sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội, đó là cơ sở để người học có thể phát triển một cách toàn diện và vững chắc. Hội nghị quốc tế về Giáo dục năm 1990 cho tất cả mọi người được tổ chức tại Jomtien (Thái Lan) và đưa ra tuyên bố “Giáo dục cho tất cả mọi người và Chương trình hành động để đáp ứng những nhu cầu học tập cơ bản của người dân” (Bùi Minh Hiền, Nguyễn Quốc Trị, 2016). Báo Tuổi trẻ số ra ngày 13/11/2006, trích bài phát biểu của Bộ trưởng Bộ Giáo dục Anh: “Ông Alan Johnson đã kêu gọi cha mẹ không nên phó thác việc chăm sóc, giáo dục con em mình cho nhà trường.
Ngược lại, ông khẳng định vai trò 8 của các bậc phụ huynh rất hiệu quả, thậm chí sẽ mang lại một sự khác biệt lớn so với những kết quả mà trẻ đạt được từ trường học” (Bộ GD & ĐT, 2006). Theo nhà triết học Xôcơrat (được trích bởi Nguyễn Xuân Thức, 2008): “Những người nào biết cách sử dụng con người sẽ điều khiển được công việc, hoặc cá nhân hay tập thể một cách sáng suốt. Những người không biết làm như vậy sẽ mắc sai lầm trong công việc”. Xukhomlinxki (1918 – 1970) (được trích dẫn bởi Nguyễn Xuân Thức, 2008): “Nếu gia đình và nhà trường không có sự hợp tác để thống nhất mục đích, nội dung giáo dục thì sẽ dẫn đến tình trạng gia đình một đường, nhà trường một nẻo”.
Sự phối hợp các lực lượng GD trong và ngoài nhà trường nhằm vận dụng tuyệt đối những điều kiện xã hội, tự nhiên và huy động, tập trung mọi nguồn lực cho quá trình giáo dục thế hệ trẻ đã được ông chia sẻ rất nhiều kinh nghiệm (Nguyễn Xuân Thức, 2008). Trong tác phẩm “Các nguyên tắc quản lý một cách khoa học” của các nhà quản lý người Mỹ Frederick Winslow Taylor (1856-1915), Henry L.Abraham Maslow (1908-1970)… xuất bản 1911 ở Mỹ (được trích bởi Nguyễn Xuân Thức, 2008) đã nhấn mạnh đến vai trò của yếu tố tâm lý, tình cảm, quan hệ xã hội của con người trong công việc, trong đó các nhà quản lý này cũng đề cập đến nhà quản lý với công tác phối hợp giữa tổ chức và xã hội. Trong tác phẩm: “Nền giáo dục cho thế kỷ hai mươi mốt” năm 1998, tác giả Raja Roy Singh đã nói: “Giáo dục các giá trị phải được bắt đầu từ gia đình và được hình thành theo những giá trị của cha mẹ. Trách nhiệm của nhà trường là kết hợp với gia đình nhưng dần dần cùng với sự phát triển của trẻ” (Vũ Đình Chuẩn, 2013).D trong phân tích các liên đới của quy trình tiến hành phân tích SWOT năm 2006 đã phân tích: “Đối với các trường phổ thông nhìn chung liên đới chủ chốt mà nhà trường cần chú ý trong phát triển chiến lược là HS, giáo viên, đội ngũ công nhân viên, cán bộ quản lý và phụ huynh HS trong quản lý giáo dục” (Vũ Đình Chuẩn, 2013).
Vì vậy, có thể nói sự phối hợp giữa NT, GĐ & CĐXH rất hiệu quả và cần thiết trong việc giáo dục HS trong đó có giáo dục, định hướng nghề nghiệp. Sự hợp tác, phối hợp nhịp nhàng giữa cha mẹ với nhà trường cụ thể là các thầy cô giáo và các LLXH không những định hướng mà còn là động lực giúp cho trẻ có niềm tin vững chắc trong quá trình học tập, rèn luyện đạo đức và định hướng nghề nghiệp của bản thân. Ở trong nước Về công tác phối hợp giữa NT, GĐ & CĐXH cũng đã được một số tác giả nghiên cứu trước đây như: - Trong tác phẩm “Phối hợp việc giáo dục gia đình với nhà trường và các thể chế xã hội khác” của tác giả Phạm Khắc Chương (chủ biên) do Nxb Giáo dục xuất bản năm 1998, tác giả cũng đã nhấn mạnh tầm hiệu quả của việc phối hợp giáo dục giữa gia đình và nhà trường một cách cụ thể, qua đó, cũng chưa đề ra quy trình, nội dung và hình thức phối hợp như thế nào là hiệu quả. - Trong tác phẩm “Gia đình và những vấn đề của gia đình hiện đại” của tác giả Trần Thị Kim Xuyến (Nxb Thống kê, Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2001).
Nội dung cuốn sách gồm hai phần. Phần thứ nhất trình bày những tranh luận về những vấn đề chung nhất có liên quan đến những thành quả nghiên cứu xã hội học về gia đình trong quá khứ và hiện tại, những cơ sở lý luận và phương pháp luận trong nghiên cứu xã hội học về gia đình. Phần thứ hai trình bày những kết quả phân tích dựa trên những nghiên cứu lý luận và thực nghiệm của tác giả về những vấn đề của gia đình đương đại. - “Những gì đang cản trở việc kết hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong công tác giáo dục HS” đăng trong tạp chí Giáo dục số 10, tháng 8/2001 của tác giả Nguyễn Sinh Huy đã nêu: việc kết hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội 10 từ lâu được xem là nguyên lý cơ bản của giáo dục, vận dụng và quán triệt được điều đó vào hoạt động thực tiễn sẽ đảm bảo cho giáo dục giữ vững được chất lượng, phát triển lành mạnh và bền vững.
Sự kết hợp giữa nhà trường và gia đình luôn bị tác động của những cơ chế mới, nên các biện pháp tác động trước đây ít hấp dẫn, kém hiệu quả và những tác động của thương mại hóa giáo dục đang gặm nhấm những giá trị cao quý, đẹp đẽ của sự kết hợp giáo dục vốn dĩ được xem là lương tâm của đạo đức của thầy cô giáo và cha mẹ. Qua các đề tài nghiên cứu trên các tác giả đã nêu ra những cơ sở lý luận cơ bản, đề xuất một số mô hình tổ chức thực hiện sự phối hợp các lực lượng giáo dục nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục cho HS. Những nghiên cứu đã chỉ ra được những vấn đề lý luận về tính cấp thiết phải phối hợp giữa các LLGD trong đó có hai cơ sở trực tiếp giáo dục là NT và GĐ, vai trò hiệu quả của GĐ trong việc giáo dục con em, sự phối hợp giữa NT, GĐ & XH cần phải có sự thống nhất cao và nhịp nhàng. Bên cạnh những tài liệu trên, trong những năm gần đây, nhiều tác giả cũng lựa chọn chủ đề này để nghiên cứu trong các luận văn thạc sỹ chuyên ngành quản lý giáo dục, như: - Luận văn thạc sỹ QLGD với đề tài “Một số biện pháp tổ chức phối hợp các lực lượng giáo dục trong công tác giáo dục cho HS trường THPT” đã nêu lên tầm hiệu quả của tổ chức phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong GD HS THPT (Phạm Thị Minh Tâm, 2007).
- Luận văn thạc sỹ quản lý giáo dục của tác giả Trần Anh Dân (2009), “Biện pháp quản lý của lãnh đạo trường trung học phổ thông về việc phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục ở Thành phố Thái Bình hiện nay” khẳng định trong giáo dục HS các nhà quản lý phải chú trọng công tác phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội. - Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục của tác giả Nguyễn Thanh Thu Thủy, Đại học Sư phạm Hà Nội, 2012 với tựa đề: “Các biện pháp quản lý hoạt động phối hợp giáo dục giữa nhà trường và gia đình ở các trường THPT huyện Lạc Dương - Lâm 11 Đồng” đã nêu lên tầm hiệu quả của hoạt động phối hợp giáo dục giữa nhà trường và gia đình. - Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục của tác giả Trương Hải Thanh, Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, 2013 với tựa đề: “Thực trạng quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình ở các trường THPT tỉnh Bình Dương” cũng một lần nữa khẳng định tầm hiệu quả trong công tác phối hợp để GD HS THPT (Trương Hải Thanh, 2013). Ngoài ra, còn có một số công trình nghiên cứu về vấn đề giáo dục đạo đức cho HS các trường THPT như sau: - Lê Duy Hùng (2013), với công trình “Giáo dục đạo đức cho HS trường THPT thực trạng, nguyên nhân và giải pháp”, được công bố trên tạp chí Khoa học trường ĐHSP Thành phố Hồ Chí Minh, Số 50 - 2013.
Qua đó, bài báo đề cập thực trạng đạo đức của HS ở một số trường trung học phổ thông trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả khảo sát cho thấy một bộ phận không nhỏ HS có những hành vi vi phạm đạo đức như: nói tục, chửi thề; gây gổ đánh nhau; bỏ giờ, trốn học; hút thuốc lá; vô lễ với thầy cô (mức độ thỉnh thoảng). Cá biệt một số HS có hành vi ở mức độ thường xuyên.