Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý sự phối hợp các lực lượng giáo dục đạo đức học sinh THCS Chương 2: Thực trạng quản lý việc phối hợp các lực lượng giáo dục đạo đức học sinh của hiệu trưởng THCS ở Huyện Vũ Thư tỉnh Thái Bình. Chương 3: Một số biện pháp quản lý sự phối hợp các lực lượng giáo dục đạo đức cho học sinh của hiệu trưởng THCS. 7 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ SỰ PHỐI HỢP CÁC LỰC LƢỢNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC SINH 1. Lịch sử nghiên cứu Về mặt lý luận cũng như thực tiễn, vấn đề GDĐĐ trong nhà trường phổ thông đã được nhiều nhà khoa học, nhà giáo dục quan tâm, song phải kể đến sự đóng góp của tiểu ban xây dựng chương trình môn Đạo đức (bậc tiểu học), môn Giáo dục công dân (bậc THCS và THPT) và chương trình Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp do Trung tâm nghiên cứu Giáo dục đạo đức, Viện Khoa học giáo dục Việt Nam làm nòng cốt.
Kết quả nghiên cứu được thể hiện trong hệ thống sách giáo khoa và sách giáo viên từ lớp 1 đến lớp 12. Phải coi đó là một công trình nghiên cứu có giá trị thực tiễn lớn lao, có quy mô toàn quốc vì nó định hướng cho hệ thống giáo dục nhà trường thực hiện thống nhất một hệ thống chuẩn mực đạo đức phù hợp với lứa tuổi giáo dục phổ thông. Việc nghiên cứu về tổ chức phối hợp các lực lượng GD nhằm GDĐĐ cho học sinh là việc làm cần thiết để tạo được sức mạnh tổng hợp, sức mạnh của toàn xã hội, của toàn dân trong sự nghiệp giáo dục. Đã có nhiều đề tài nghiên cứu về gia đình và GD gia đình với trẻ em như nghiên cứu của tác giả Phạm Tất Dong, Lê Thi, Đinh Thị Kim Thoa.
Những nghiên cứu này đề cập đến vấn đề con người và vấn đề xã hội hóa, vấn đề về gia đình và vai trò của gia đình trong sự hình thành nhân cách trẻ em, sự phát triển của gia đình Việt Nam và chức năng GD gia đình; nghiên cứu công tác bảo vệ chăm sóc và GD trẻ em trong gia đình và cộng đồng, việc GD văn hóa truyền thống cho trẻ em trong gia đình. Các luận văn thạc sĩ của ngành Quản lý giáo dục cũng có các đề tài nói đến các biện pháp phối hợp các lực lượng trong GDĐĐ học sinh như: - “Các biện pháp phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục đạo đức học sinh ở trường trung học phổ thông Giao Thuỷ huyện Giao Thuỷ tỉnh Nam Định” của thạc sỹ Vũ Văn Hưng (năm 2010). 8 z - “Biện pháp phối hợp công tác giữa bí thư Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và Hiệu trưởng trường THCS tỉnh Trà Vinh nhằm tăng cường kết quả giáo dục đạo đức cho học sinh” của thạc sỹ Nguyễn Thành Tâm (năm 2006). - “Biện pháp tổ chức phối hợp các lực lượng trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” của Thạc sỹ Vương Quốc Tuấn (2006).
Gần đây, chúng ta phải kể đến những đóng góp của PGS.TS Hà Nhật Thăng thể hiện trong “Sổ tay giáo viên chủ nhiệm” nhà xuất bản Giáo dục 2010 và cuốn “Rèn luyện kỹ năng sư phạm” nhà xuất bản Giáo dục 2010; đóng góp mới của GS.TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc, TS Đinh Thị Kim Thoa, TS Đặng Hoàng Minh trong “Giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho học sinh THCS”. Trong các công trình trên, các tác giả đã đề cập tới vai trò của GVCN lớp, của nhà trường trong việc chịu trách nhiệm phối hợp với gia đình, các tổ chức xã hội nhằm thực hiện mục tiêu GD - ĐT và giáo dục các giá trị sống, kỹ năng sống cho học sinh đặc biệt là học sinh THCS. Nghiên cứu về quản lý sự phối hợp các lực lượng giáo dục nhằm GDĐĐ cho học sinh có một số luận văn thạc sỹ như: - “Quản lý sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh trường Trung học Cơ sở thị trấn Lương Bằng, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên” của thạc sỹ Trần Thị Mai Hạnh. - “Biện pháp quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trường THPT huyện Na Hang tỉnh Tuyên Quang” của thạc sỹ Trịnh Thị Thanh Thuỷ.
Tuy nhiên chưa có đề tài nào nghiên cứu về quản lý sự phối hợp các lực lượng trong GDĐĐ cho học sinh trường THCS trên địa bàn tỉnh Thái Bình – một tỉnh nông nghiệp đang trên đà hội nhập và chịu nhiều ảnh hưởng của sự phát triển đô thị giữa Nam Định và Hải Phòng. Vì vậy học viên chọn đề tài này với hy vọng góp phần nhỏ bé vào việc nâng cao hiệu quả GDĐĐ cho học sinh ở huyện Vũ Thư tỉnh Thái Bình. Một số khái niệm nghiên cứu đề tài 1. Quản lý và quản lý giáo dục 1.
Quản lý Khi con người bắt đầu hình thành các nhóm để thực hiện những mục tiêu mà họ không thể đạt được với tư cách là những cá nhân riêng lẻ, thì quản lý xuất hiện như một yếu tố cần thiết để phối hợp những nỗ lực cá nhân hướng tới những mục tiêu chung. Nói đến hoạt động quản lý, người ta thường nhắc đến ý tưởng sâu sắc của K.Mác: “Một nghệ sĩ vĩ cầm thì tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần nhạc trưởng”. Hoạt động quản lý chỉ nảy sinh khi có “Tổ chức”. Tổ chức là thể hiện của quản lý, ý tưởng của Mác dẫn ra trên đây đã nói lên mối liên hệ hữu cơ của hai phạm trù tổ chức và quản lý.
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về quản lý: - Quản lý là những hoạt động cần thiết phải được thực hiện khi những con người kết hợp với nhau trong các nhóm, tổ chức nhằm đạt được những mục tiêu chung. - Quản lý là quá trình cùng làm việc và thông qua các cá nhân, các nhóm cũng như các nguồn lực khác để hoàn thành các mục đích chung của một nhóm người, một tổ chức. - Quản lý là một nghệ thuật đạt được mục tiêu đã đề ra thông qua việc điều khiển, phối hợp, hướng dẫn, chỉ huy hoạt động của những người khác. - Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến [28].
- Theo từ điển Tiếng Việt: “Quản lý là việc tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, một cơ quan”[27, tr. - Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc, hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể (người bị quản lý) - trong một tổ chức [8]. 10 z Định nghĩa này cho ta thấy bất luận một tổ chức nào, có mục đích gì, cơ cấu, quy mô ra sao đều phải có sự quản lý, người quản lý để tổ chức đó hoạt động và đạt được mục đích. Chúng ta thấy rằng tất cả các tác giả đều thống nhất về vấn đề cốt lõi của khái niệm quản lý, đó là trả lời câu hỏi: Ai quản lý? (chủ thể quản lý); quản lý ai? quản lý cái gì? (khách thể quản lý); quản lý như thế nào? (phương thức quản lý); quản lý bằng cái gì? (công cụ quản lý); quản lý nhằm làm gì? (mục tiêu) và từ đó chúng ta cũng nhận thức được: Bản chất của quản lý là những hoạt động của chủ thể quản lý tác động vào khách thể quản lý để đảm bảo cho hệ thống tồn tại, ổn định và phát triển lâu dài, vì mục tiêu và lợi ích của hệ thống.
Chúng ta có thể hiểu khái niệm quản lý theo nghĩa chung nhất: quản lý là sự tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý bằng những công cụ, phương pháp mang tính đặc thù trong việc thực hiện các chức năng quản lý để đạt được mục tiêu chung của hệ thống. Quá trình quản lý Công cụ Chủ thể Chức năng Khách thể Mục tieu quản lý quản lý quản lý Phương pháp Hệ thống chức năng của quản lý: Quản lý cũng như các hoạt động khác đều có chức năng riêng của nó. Quản lý có nhiều chức năng khác nhau, nhưng có thể xác định 4 chức năng cơ bản: kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra. + Kế hoạch hoá: Đây là chức năng đầu tiên và quan trọng nhất của nhà quản lý.
Nhà quản lý phải xác định được mục đích, nội dung, con đường, biện pháp, cách thức, điều kiện. để tiến hành mọi công việc. Với kế hoạch đã có, 11 z nhà quản lý phối hợp các lực lượng tổ chức triển khai theo một quy trình nhất định để đạt được mục đích đề ra. Để làm tốt công tác kế hoạch chủ thể quản lý cần làm tốt những công việc sau: - Chỉ ra đúng đích của kế hoạch.
- Thu thập thông tin liên quan đến mục tiêu một cách chính xác. - Nêu ra phương án thực thi. + Tổ chức: Sau khi đã lập xong kế hoạch, nhà quản lý phải thực hiện kế hoạch bằng cách điều hành và phối hợp, phân công, phân cấp các thành viên trong tổ chức, phát huy hết các nguồn lực, tạo ra sự hoạt động đồng bộ của bộ máy, tạo ra sức mạnh hợp đồng để phát triển tổ chức và đạt được mục tiêu đã đề ra. Chức năng cơ bản của tổ chức là gắn kết các thành tố, các bộ phận để thực hiện thành công kế hoạch.
Hai yếu tố có tác động mang tính quyết định đến quy trình tổ chức là cơ chế và năng lực của nhà quản lý. Nhà quản lý có tổ chức tốt thì bộ máy của cơ quan, của tập thể. mới vận hành tốt và đạt hiệu quả cao. Để làm tốt công tác tổ chức chủ thể quản lý cần làm những công việc sau: - Phân tích sứ mệnh chung của đơn vị, của từng bộ phận trong đơn vị.
- Quyết định nội dung chức năng, nhiệm vụ, công việc. - Lập ra cơ cấu tổ chức, nội quy hoạt động của tổ chức. + Chỉ đạo: Chỉ đạo giống như công việc của một “nhạc trưởng”. Nhà quản lý phải dẫn dắt, hướng dẫn, điều chỉnh mọi liên kết, mọi hoạt động của tổ chức.
Theo quan điểm của lý thuyết hệ thống thì chỉ đạo là quá trình vận hành, điều khiển hệ thống hoạt động hợp lý, nhịp nhàng, không có sự chồng chéo, vô lý.