Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho học sinh trung học phổ thông. Chương 2: Thực trạng quản lý phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho học sinh ở các trường trung học phổ thông, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Chương 3: Biện pháp quản lý phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho học sinh ở các trường trung học phổ thông, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIAO TIẾP VÀ HỢP TÁC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.
Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Những nghiên cứu về phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho học sinh Giao tiếp là hoạt động đặc thù của con người, chỉ riêng con người mới có. Nó được thực hiện giữa con người với nhau, tạo ảnh hưởng, tác động lẫn nhau. Giao tiếp quyết định việc hình thành con người xã hội, hình thành và phát triển nhân cách cá nhân.
Thế hệ trẻ nói chung và học sinh nói riêng có nhu cầu rất lớn trong quan hệ giao tiếp nhằm phát triển và hoàn thiện nhân cách. Vì vậy vấn đề phát triển NLGT&HT cho thế hệ trẻ và đặc biệt là lứa tuổi học sinh đã được nhiều nhà khoa học nói chung và nhà tâm lý học nói riêng ở trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu dưới nhiều góc độ và nhiều bình diện khác nhau. Cruz trong công trình nghiên cứu của mình đã chỉ ra rằng: Học sinh phổ thông có thể đạt được nhiều mục tiêu khi có sự hướng dẫn cơ bản và cơ hội luyện nói trong lớp. Giao tiếp bằng miệng mang đến cách tiếp cận dựa trên hiệu quả của việc thực hiện nhiệm vụ, sử dụng các biểu thức mục tiêu hoặc các chức năng ngôn ngữ để thực hiện các loại nhiệm vụ khác nhau.
Nghiên cứu sử dụng kết quả của các bài kiểm tra trước và sau khi giao tiếp bằng miệng để xem xét mức độ năng lực giao tiếp bằng miệng của học sinh Phổ thông thuộc Trung tâm Domalandan. Kết quả của nghiên cứu chỉ ra rằng học sinh có thể giao tiếp bằng miệng tốt nhất khi giáo viên sử dụng hình thức giảng dạy phù hợp với phong cách học tập học sinh. Điều này cũng khuyến khích các giáo viên phát triển các phương pháp dạy học để hỗ trợ học sinh, tạo ra môi trường học tập hiệu quả hơn [43]. Dongryeul Kim trong nghiên cứu của mình cho rằng: Hoàn toàn có thể phát triển năng lực giao tiếp và khả năng hợp tác cho học sinh Hàn Quốc thông qua học tập hợp tác (STAD).
Đối tượng của nghiên cứu này là 30 học sinh 8 trường trung học phổ thông dành cho nữ sinh ở Thành phố Metropolitan của Hàn Quốc. Trong năm tuần, lớp học áp dụng hình thức STAD (Học tập hợp tác). Kết quả phân tích cho thấy sau khi áp dụng hình thức học tập hợp tác, chỉ số mối quan hệ của lớp học đã được cải thiện. Nói cách khác, học tập hợp tác đã thúc đẩy sự tương tác giữa các học sinh.
Học sinh có thể trao đổi thông tin một cách tự do và giao tiếp với các thành viên của nhóm thông qua học tập hợp tác. Điều này giúp các em cải thiện năng lực giao tiếp cũng như khả năng hợp tác trong lớp học [41]. Ying Gui cho rằng: Với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin, việc giảng dạy ngoại ngữ đã được thực hiện ở hình thức đào tạo từ xa. Tuy nhiên, làm thế nào để phát triển năng lực giao tiếp của học sinh trong môi trường từ xa vẫn là một thách thức lớn.
Với trường hợp của Trường Cao đẳng Trực tuyến Beiwai, tác giả phân tích các cách thức phát triển năng lực giao tiếp của sinh viên trong giảng dạy ngôn ngữ từ xa từ một số khía cạnh, bao gồm sách giáo khoa, tương tác giữa giáo viên và học sinh, nguồn lực và cộng đồng [Dẫn theo 26]. Ở Việt Nam, đã có nhiều tác giả nghiên cứu về phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác, tuy nhiên lại không có phương hướng rõ ràng. Từ đầu thế kỷ 21 tới nay mới hình thành như một hướng nghiên cứu và ngày càng có nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đặc biệt. Nơi thực hiện những nghiên cứu cơ bản và có hệ thống đầu tiên về chủ đề này là Viện khoa học giáo dục Việt Nam nhằm mục đích chuẩn bị cho khung chương trình giáo dục phổ thông năm 2018.
Trên cơ sở cải cách giáo dục nghề và giáo dục đại học cuối thế kỉ 20 đầu thế kỉ 21, Viện nghiên cứu và phát triển giáo dục cũng đã có nghiên cứu về phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác. Tuy nhiên, các tác giả chưa thực sự nghiên cứu đầy đủ và mới chỉ thực hiện được những bước đầu tiên. Có thể kể đến các công trình sau: Tác giả Nguyễn Chiến Thắng, Nguyễn Thị Hoàng Anh cho rằng: Giao tiếp và hợp tác được xem là một trong những năng lực quan trọng của con người 9 trong xã hội hiện đại. Tương tác với người khác sẽ tạo cơ hội trao đổi và phản ánh về ý tưởng.
Hành động xây dựng ý tưởng để chia sẻ thông tin hoặc lập luận để thuyết phục người khác là một phần quan trọng trong học tập. Nếu ý tưởng được đưa ra trao đổi và chịu sự phản biện cẩn thận thì chúng thường được sàng lọc và cải tiến. Trong quá trình này, học sinh (HS) làm sâu sắc thêm các Kỹ năng của mình thông qua sự phản biện và theo logic của người khác. Hiện nay, việc phát triển NLGT&HT từ trong trường học đã trở thành một xu thế giáo dục trên thế giới trang bị cho HS hiện nay.
Năng lực này được bồi dưỡng thông qua các môn học với các hình thức tổ chức dạy học khác nhau. Các tác giả đã nghiên cứu bồi dưỡng năng lực đó cho HS thông qua hình thức tổ chức hoạt động nhóm khi dạy học Toán, cụ thể là dạy học hàm số bậc nhất và hàm số bậc hai ở lớp 10. Việc phát triển năng lực này còn có thể được triển khai, tổ chức trong quá trình dạy học các nội dung khác nữa trong môn Toán [31]. Tác giả Lê Thị Trinh trong công trình nghiên cứu của mình đã đề xuất được Quy trình dạy học theo định hướng phát triển năng lực hợp tác cho học sinh thông qua dạy học môn Hóa học.
Đồng thời tác giả cũng đề xuất được một số biện pháp phát triển năng lực hợp tác cho HS trong dạy học hóa học như: Sử dụng PPDH theo nhóm, Sử dụng PPDH theo góc, Sử dụng PPDH theo hợp đồng, Sử dụng PPDH theo dự án. Các biện pháp đề xuất đã góp phần thiết thực nâng cao chất lượng dạy học hoá học ở trường THPT và cải thiện năng lực hợp tác cho học sinh [35]. Tran Thi Mai Phuong, Nguyen Thuy Duong nghiên cứu về năng lực hợp tác của sinh viên đại học. Các tác giả cho rằng: hợp tác là nền tảng của cuộc sống và tiến bộ xã hội, là trung tâm của các mối quan hệ giữa các cá nhân, mối quan hệ gia đình, hệ thống kinh tế và luật pháp và các khía cạnh khác.
Trong mối quan hệ hợp tác toàn diện này, với mục đích trang bị cho thế hệ trẻ những kỹ năng cần thiết trong quá trình phát triển toàn diện của Việt Nam, năng lực hợp tác là chìa khóa của mọi thành công trong công việc cũng như cuộc sống. 10 Bài báo này tập trung làm rõ cơ sở lý luận của năng lực hợp tác và các biện pháp phát triển năng lực hợp tác cho người học trong giảng dạy ở các trường đại học hiện nay. đóng góp vào hệ thống kép của năng lực hợp tác và phát triển năng lực hợp tác của người học trong dạy học, trên cơ sở đó đề xuất một số phương pháp và kỹ thuật dạy học nhằm phát triển năng lực hợp tác cho người học trong dạy học ở đại học thế kỷ XXI [47]. Tác giả Nguyễn Thị Kim Ngân trong công trình nghiên cứu của mình đã đề xuất quy trình phát triển năng lực hợp tác cho học sinh; xây dựng các chuyên đề tích hợp chương nhóm oxi; Thiết kế và thử nghiệm bộ công cụ đánh giá năng lực hợp tác của học sinh.
Đồng thời, thiết kế các giáo án minh họa để sử dụng trong dạy học tích hợp nhằm phát triển năng lực hợp tác cho học sinh [27]. Tác giả Phan Thị Thanh Hội, Phạm Huyền Phương cho rằng: Năng lực hợp tác là một trong 9 năng lực cốt lõi được xây dựng cho chương trình sau năm 2015 của bộ Giáo dục và Đào tạo. Bởi vì, hợp tác là một trong những hoạt động không thể thiếu giúp cho người học thành công trong học tập và trong cuộc sống.Việc đánh giá năng lực hợp tác cũng khá trừu tượng, thường khó để sử dụng các công cụ thông thường như câu hỏi, bài tập để đánh giá, muốn đánh giá năng lực hợp tác thường phải có bộ công cụ đánh giá chuyên biệt. Nhóm tác giả đã xây dựng bảng các tiêu chí đánh giá năng lực hợp tác và thiết kế một số bảng hỏi, bảng kiểm như là công cụ đánh giá và thực nghiệm đánh giá năng lực hợp tác ở 42 học sinh lớp 11 ở Trường trung học phổ thông Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn năm học 2013-2014 [25] Qua nghiên cứu tổng quan về quản lý phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác trên thế giới và ở trong nước, có thể thấy các tác giả tập trung vào một số khía cạnh sau: - Tất cả các nghiên cứu đều thừa nhận, phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác là tích cực và có hiệu quả trong giáo dục.
- Còn tồn tại những quan niệm khác nhau, chưa thống nhất về một số khái niệm then chốt, như năng lực, như năng lực thực hiện, như chuẩn, cũng như về 11 chính tiếp cận năng lực. Có quan điểm chỉ nhấn mạnh tiếp cận này với nghĩa chuẩn chuẩn đầu ra hay năng lực đầu ra. Có tác giả chỉ nhấn mạnh tiếp cận năng lực tức là phát triển năng lực người học và quan tâm nhiều đến kiểm định, đánh giá kết quả học tập. Năng lực và khái niệm năng lực trong cách tiếp cận trên được giải thích là bao hàm toàn bộ quá trình dạy học, cả đầu vào, quá trình học tập và đầu ra.
Năng lực đang được bàn ở đây đòi hỏi người học phải có nền tảng năng lực của mình, vừa phải tìm hiểu và tích lũy năng lực giao tiếp và hợp tác để biến nó thành sức mạnh cá nhân.