Chương 1: Cơ sở lý luận các vấn đề nghiên cứu. - Chương 2: Thực trạng quản lý phát triển đội ngũ giảng viên Khoa Ngôn ngữ và Văn hoá Pháp Trường Đại học Ngoại ngữ. - Chương 3: Những biện pháp quản lý phát triển đội ngũ giảng viên Khoa Ngôn ngữ và Văn hoá Pháp theo quan điểm xây dựng tổ chức biết học hỏi. 5 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN THEO QUAN ĐIỂM XÂY DỰNG TỔ CHỨC BIẾT HỌC HỎI 1.
Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Một số quan niệm về quản lý Từ khi loài người xuất hiện, đã có sự phân công lao động đồng thời xuất hiện một dạng lao động có tính đặc thù - điều khiển các hoạt động lao động theo yêu cầu nhất định, theo một mục đích nhất định. Dạng lao động đặc thù ấy gọi là quản lý. Trong quá trình tồn tại và phát triển của quản lý, đã có nhiều quan niệm được đưa ra : “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể (người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế,… bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng”.
“Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến đổi của môi trường” “Quản lý là tác động có mục đích đến tập thể những con người để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong quá trình lao động” “Quản lý” là từ Việt gốc Hán đã coi quản lý gồm hai quá trình tích hợp: quá trình “quản” là sự coi sóc, gìn giữ, duy trì ở trạng thái ổn định, quá trình ; “lý” là sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới nhằm phát triển. Nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam, xuất phát từ các góc độ khác nhau cũng đã đưa ra những khái niệm quản lý: 6 z Xuất phát từ các loại hình hoạt động quản lý, các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra” Một xu hướng nghiên cứu phương pháp luận quản lý ở Việt Nam trong cuốn “Khoa học tổ chức và quản lý” của nhiều tác giả: Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Văn Bình, Nguyễn Quốc Chí. cho rằng: hoạt động quản lý nhằm làm cho hệ thống vận động theo mục tiêu đặt ra, tiến đến trạng thái có chất lượng mới Các nhà lý luận quản lý quốc tế như: W. Taylor (1856-1951) người Mỹ: “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất”.
Fayol (1841-1925) người Pháp: “Quản lý là đưa xí nghiệp tới đích”, cố gắng sử dụng tốt khái niệm nêu trên, ta có thể thấy rõ bốn yếu tố của quản lý: chủ thể quản lý, đối tượng bị quản lý (gọi tắt là đối tượng quản lý), khách thể quản lý và mục tiêu quản lý. Bốn yếu tố này tạo thành sơ đồ sau: Phương pháp QL Chủ thể Đối quản lý tượng quản lý M Nội dung QL M : là mục tiêu quản lý Sơ đồ 1.1 : Sơ đồ khái niệm quản lý 7 z Trong thực tiễn, các yếu tố trên không tách rời nhau mà ngược lại, chúng có quan hệ tương tác gắn bó với nhau. Chủ thể quản lý tạo ra những tác nhân tác động lên đối tượng quản lý, nơi tiếp nhận các tác động của chủ thể quản lý và cùng với chủ thể quản lý hoạt động theo một quỹ đạo nhằm cùng thực hiện mục tiêu quản lý. Quản lý bao gồm hai thành phần: chủ thể quản lý và khách thể quản lý (đối tượng của quản lý), có quan hệ qua lại, tương tác lẫn nhau.
“Ai quản lý” - đó là chủ thể quản lý. Chủ thể quản lý là do một cá nhân hoặc một tổ chức lập nên, có nhiệm vụ và quyền hạn sử dụng các công cụ quản lý (quyền lực, tổ chức, điều kiện cơ sở vật chất…) phương pháp quản lý và đề ra các biện pháp quản lý. “Quản lý ai ”, “Quản lý cái gì” – đó là khách thể quản lý. Khách thể quản lý có thể là con người, là tổ chức hoặc vật thể.
Bản chất và chức năng của quản lý - Bản chất của hoạt động quản lý: quản lý là sự tác động có mục đích đến một tổ chức nhằm đạt được mục tiêu quản lý. Quản lý giáo dục đó là sự tác động của nhà quản lý đến tập thể cán bộ giảng viên, công nhân viên trong nhà trường và các lực lượng khác trong xã hội nhằm thực hiện các mục tiêu giả định đã đề ra. - Chức năng quản lý: là biểu hiện cụ thể của hoạt động quản lý. Đó là hoạt động cơ bản mà thông qua đó chủ thể quản lý tác động đến khách thể quản lý nhằm thực hiện mục tiêu đề ra.
Chức năng quản lý được quy định một cách khái quát bởi các hoạt động của khách thể quản lý. Tổ hợp tất cả các chức năng quản lý tạo nên nội dung của quá trình quản lý. Có nhiều quan điểm để xác định chức năng quản lý: Theo quan niệm chung, phổ biến : có 4 nhóm chức năng cơ bản sau: + Chức năng kế hoạch hoá: là chức năng đầu tiên, quan trọng của quá trình quản lý. Nó là quá trình xác định các mục tiêu phát triển và quyết định các biện pháp hữu hiệu nhất để thực hiện mục tiêu đó.
8 z + Chức năng tổ chức: một tổ chức tốt có ý nghĩa quyết định để thực hiện mục tiêu. Xét về chức năng quản lý, tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc của các mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý, giữa các thành viên với nhau, giữa các bộ phận trong cùng một tổ chức…nhằm làm cho họ thực hiện thành công kế hoạch và mục tiêu đã đề ra. Nhờ có công tác tổ chức, người quản lý có thể phối hợp điều phối tốt hơn nguồn nhân lực, vật lực. + Chức năng chỉ đạo: chỉ đạo là lãnh đạo và điều hành, thực chất là hoạt động dắt dẫn, điều khiển của người quản lý đối với các hoạt động và các thành viên của tổ chức để đạt được mục tiêu quản lý.
Hoạt động chỉ đạo nảy sinh từ khi thai nghén mục tiêu, đến quá trình lập kế hoạch, tổ chức nhân sự, kiểm tra và đánh giá kết quả. Chỉ đạo là hoạt động thường xuyên, mang tính kế thừa, sáng tạo và phát triển. + Chức năng kiểm tra: là chức năng không thể thiếu được của quá trình quản lý. Kiểm tra bao gồm: xem xét, thu thập thông tin, nhận xét, đối chiếu, đánh giá kết quả của quá trình quản lý, đánh giá việc thực hiện mục tiêu quản lý, từ đó đưa ra quyết định uốn nắn, điều chỉnh, bổ sung… nhằm đạt được mục tiêu đề ra.
Phương pháp quản lý Hoạt động quản lý chỉ có thể đạt được mục tiêu, hiệu quả khi người quản lý sử dụng các phương pháp quản lý phù hợp với từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể sao cho phát huy được những điểm mạnh để thành công trong quản lý. Một số phương pháp cần áp dụng trong quá trình quản lý: - Phương pháp thuyết phục: là cách thức tác động vào nhận thức con người bằng lý lẽ làm cho con người nhận thức đúng đắng và tự nguyện thừa nhận các yêu cầu của nhà quản lý từ đó có thái độ và hành vi phù hợp với yêu cầu đó. Nhận thức là cơ sở của thái độ và hành vi của con người, nhận thức đúng sẽ có thái độ và hành vi đúng. Có thể làm cho con người thay đổi nhận thức bằng các tác động nhẹ nhàng vì bản chất con người không ưa các tác động nặng nề.
9 z - Phương pháp tổ chức- hành chính: là phương pháp chủ thể quản lý dùng quyền lực đưa ra các mục tiêu, nhiệm vụ, yêu cầu khách thể hiện thông qua văn bản đã được pháp lý hoá. Phương pháp này thể hiện quyền lực, sức mạnh của chủ thể quản lý. Song, nó có thể hạn chế, nếu lạm dụng phương pháp này hạn chế quyền dân chủ, quyền sáng tạo của cấp dưới và nó có thể nảy sinh tư tưởng áp đặt, quan liêu, tiêu cực. - Phương pháp kinh tế : là phương pháp khuyến khích quyền lợi vật chất nhằm tác động đến khách thể quản lý bằng quyền lợi kinh tế.
Phương pháp này có ưu điểm, có tính tích cực nhưng chớ nên cực đoan, sẽ rơi vào chủ nghĩa thực dụng làm giảm tính chủ động, sáng tạo, tự nguyện của khách thể quản lý. - Phương pháp Tâm lý- Giáo dục: là cách thức tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý thông qua đời sống tâm lý cá nhân: tâm tư, tình cảm nguyện vọng…của họ. Nhà quản lý sử dụng các tác động tâm lý nhằm khai khác tiềm năng của con người, kích thích ý thức tự giác, sự say mê của con người để họ chủ động sáng tạo trong hoạt động của mình. Phương pháp tâm lý là một trong các phương pháp không thể thiếu được của một nhà quản lý.
Nếu làm được tốt, sẽ đạt lợi ích về hiệu quả công tác, thực hiện mục tiêu đề ra. Quản lý nguồn nhân lực 1. Nguồn nhân lực Nguồn nhân lực được hiểu là “nguồn tài nguyên nhân sự và các vấn đề nhân sự trong tổ chức cụ thể.